Người Khmer Nam bộ nhận thức rằng việc học tiếng phổ thông (tiếng Việt) là cần thiết cho nhịp sống mới, cho nền sản xuất công nghiệp để cải thiện đời sống vật chất, thay vì trước đây chỉ chú trọng học tiếng dân tộc mình để gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.
Như chúng ta đã biết, chùa là trung tâm chỉ đạo mọi hoạt động trong đời sống tín ngưỡng của người Khmer và cùng với nó, quan niệm về sự phúng điếu tất cả đều tập trung vào chùa.
Buổi trưa hôm 31-5-1966, diễn ra cuộc hội thảo bàn chuyện tiếp tục đấu tranh chống Mỹ tại giảng đường C. Tôi đến dự hội thảo thì gặp bác sĩ Mỹ Ted Britton mặc veston màu vàng nhạt đang đứng trước cửa lớn vào giảng đường. Ông ta trố mắt nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên và hỏi tôi bằng tiếng Việt: - Tôi tưởng anh bị bắt rồi mà?
Vào hạ tuần tháng 5-1966, qua tin tức của các đài phát thanh BBC, VOA, chúng tôi biết Thiệu - Kỳ bất chấp những thỏa thuận với quý thầy lãnh đạo của Phật giáo. Họ sửa soạn cử tổng giám đốc cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan đưa quân, xe tăng M41 ra Đà Nẵng để từ đó tiến quân dẹp phong trào vận động hòa bình dân chủ ở Huế.
Cuối mùa hè năm 1964, bộ trưởng quốc phòng Mỹ McNamara dắt tay tướng Nguyễn Khánh, tuyên bố có thể mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Lời tuyên bố của ông McNamara đã khiêu khích tinh thần tự trọng dân tộc của giới sinh viên Huế. Nhiều người có ý thức chống Mỹ kể từ đó.
Chiều 2-11-1963, các nhà giam phật tử trên khắp thành phố Huế mở cửa. Được tháo cũi sổ lồng, chúng tôi vui sướng không thể nào tả được. Dân chúng Huế nhảy múa ngoài đường.
Thành phố bị giới nghiêm nhưng các tụ điểm đấu tranh vẫn đông người. Không ai còn sợ cái uy của chính quyền Diệm nữa...
Cuộc đấu tranh của Phật giáo từ chùa Từ Đàm mở thêm chi nhánh chùa Diệu Đế, nay có thêm Đại học Huế tạo thành cái thế chân vạc rất vững.
Bất ngờ ngày 11-6-1963, ngọn lửa Thích Quảng Đức bừng sáng giữa TP Sài Gòn. Cả thế giới bàng hoàng, xúc động...
Đêm 8-5-1963, đáp lại nguyện vọng của hàng vạn đồng bào phật tử Huế, một đoàn xe thiết giáp và hàng chục lính súng cầm tay lưỡi lê giương thẳng, do thiếu tá phó tỉnh trưởng nội an Đặng Sĩ chỉ huy, xuất hiện và xông vào khuôn viên Đài phát thanh.
Đây là những hồi ức sống động về một thời xuống đường tranh đấu chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm của lực lượng sinh viên Huế.
Lịch sử dân tộc Việt Nam ta đã ghi nhận những đóng góp to lớn của đạo Phật với dân tộc. Ngay từ buổi đầu mới được truyền vào nước ta, Phật giáo đã được các bậc Tổ sư tiền bối tiếp thu một cách có chọn lọc, dựa trên các điều kiện cụ thể của nước nhà để hoằng dương Phật pháp, lợi lạc quần sinh và tạo nên một đạo Phật rất Việt Nam gắn bó mật thiết không thể phân ly trong lòng dân tộc. Do sự tương đồng giữa giáo lý "Từ bi - Hỷ xả", "Cứu khổ cứu nạn" của đức Như Lai với tư tưởng, tình cảm và truyền thống nhân văn của người Việt nên đạo Phật đã luôn gắn bó, đồng cam cộng khổ cùng dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước.
Với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, chiến thắng mùa xuân ngày 30/4/1975 đất nước thống nhất hoàn toàn, giang san thu về một mối, Bắc Nam sum hợp một nhà. Trước xu thế tất yếu của lịch sử, Phật giáo Việt Nam cũng phải thống nhất thành một tổ chức duy nhất, như các tổ chức chính trị, xã hội trong một nước Việt Nam thống nhất.
Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam sự phân cách các tông phái không rõ rệt. Trong cả lịch sử lâu dài với nhiều chùa chiền ở khắp cả nước, chắc cũng có nhiều cao tăng tâm đắc với những kinh điển khác nhau, thực hành cách tu luyện khác nhau.
Vào lúc 8 giờ ngày 05 tháng 12 năm 2011 (11/11/Tân Mão), tại Văn phòng 2 Trung ương Giáo hội Phật giáo – Thiền viện Quảng Đức, quận 3, Tp. Hồ Chí Minh, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam trọng thể tổ chức Lễ tưởng niệm lần thứ 18 Đại lão HT. Thích Đức Nhuận – Đệ nhất Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam; hiệp kỵ chư Tôn giáo phẩm thành viên HĐCM GHPGVN, chư Tôn đức Trưởng lão các tổ chức, hệ phái Phật giáo Việt Nam.
Theo những gì ông nói với người đệ tử kế thừa tâm ấn của mình trước khi tịch diệt thì sở dĩ ông lặn lội ngàn dặm xa xôi từ phương Bắc tới Giao Châu là vì “ở phương Bắc tìm người có căn cơ Đại thừa nhưng chưa gặp”.
Kính bạch Chư tôn đức lãnh đạo HĐCM, HĐTS. GHPGVN, Chư tôn đức tăng ni lãnh đạo các tỉnh thành cả nước,
Trong lúc xã hội đủ những màu sắc ồn ào, thì Hoà thượng vẫn kiên định con đường của Phật giáo. Tất cả công hạnh của Hoà thượng từ khi tuổi chưa tròn đôi mươi đến nay đã đầy đủ ý nghĩa để Hoà thượng nhận Giáo hội ấy, Phật giáo ấy, trách nhiệm ấy là của mình, do mình và bởi mình.
Nhớ Giác linh xưa, thiện căn đầy đủ, hạnh nguyện đại thừa từ vùng đất địa linh nhân kiệt Trần gia thọ mạng một đời, Hòa thượng đã hiện thân Đại sĩ, xứ Hưng Yên thác tích hiện thân, nương các duyên thực hành Bồ tát đạo. Hòa thượng đã sớm kết duyên lành với ngôi Tam Bảo, tuổi mười hai xả tục cầu chân chùa Đống Long, Tổ Thanh Hồ truyền thụ tâm tông. Kể từ đó, đường giải thoát nâng nâng nhẹ gót; rồi đến độ tâm hoa khai phát, suối nghĩa dạt dào, đèn Thiền tỏ rạng, sáng danh Thích tử nghìn đời.
Nhân lễ giỗ Phật hoàng Trần Nhân Tông lần thứ 703 (1308 - 2011), được sự bảo trợ của Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam, TƯ Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, ngày 24-11-2011, tại Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội, Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học "Trần Nhân Tông và con đường chính pháp" và lễ giỗ.
Chùa Sắc Tứ Khải Đoan là ngôi chùa đầu tiên của tổ chức Phật Giáo có mặt tại Đaklak, được xây dựng vào năm 1951. chùa tọa lạc trên khu đất rộng 7 mẫu 8 sào 28m2, do Đoan Huy Hòang Thái Hậu Hòang Thị Cúc hiến cúng cho Tổng Hội Phật Giáo trung phần.
Đang truy cập :
16
Hôm nay :
5328
Tháng hiện tại
: 219962
Tổng lượt truy cập : 39344853