Hòa thượng Thích Quảng Đức là một chiến sĩ hòa bình

Thứ ba - 08/11/2011 19:54
Hòa thượng Thích Quảng Đức là một chiến sĩ hòa bình

Hòa thượng Thích Quảng Đức là một chiến sĩ hòa bình

Ở đất Lục Tỉnh, vào những thập niên cuối thế kỷ trước, người Pháp nhận thấy sự phát triển một loại phong trào yêu nước mà họ gọi là “chủ nghĩa dân tộc tôn giáo”.

Quả thật hiên tượng chính trị ấy: Khi quan hệ ý thức Nho giáo đã tỏ ra bất lực trong nhiệm vụ tập hợp lực lượng nhân dân nhằm đánh đuổi quân xâm lược Pháp, thì các nhà yêu nước bèn soạn lại xem trong kho vũ khí tư tưởng cổ truyền còn có cái gì đủ sắc bén có thể dùng được để vận động khởi nghĩa. Các cụ tìm thấy vũ khí tinh thần đó ở Phật giáo và phần nào Đạo giáo. Cuộc kháng chiến tiếp tục theo một hướng như mới mà thực ra đã quen thuộc từ bao đời. Cái gốc của “chủ nghĩa dân tộc tôn giáo” là như vậy đó.

 

Rồi, vào đầu thế kỷ này, những người lãnh đạo nhưng cuộc khởi nghĩa 1913-1916, như  “Thầy chùa núi” Nguyễn Hữu Trí, trước lấy núi Tà Lơn, sau lấy núi Sam làm đại bản doanh. Năm 1926, trong số hàng loạt nhân dân Sài Gòn và ngoại ô đỏ xuống bến Nhà Rồng đón khách từ Pairs về, người ta thấy nhiều cái áo vàng, nhiều cái đầu cạo. Năm 1940, Pháp tìm thấy chùa của Hòa thượng Đồng, Rạch Giá, một kho bom.

Truyền thống yêu nước và tham gia giải phóng dân tộc của Phật giáo, không phải riêng trong Nam mới có. Ở Trung, Bắc đều có: ta ghi nhớ khởi nghĩa của Võ Trứ ở Phú Yên, của Vương Quốc Chính ở Hà Đông.

Đến thời kỳ chống Mỹ-Ngụy gần đây, vẫn tồn tại truyền thống đấu tranh của Phật giáo vì dân, vì nước cứu khổ cho dân, cứu nạn cho nước. Có khác trước là, lần này số Phật tử tham gia phong trào đông đúc, hàng trăm năm nay chưa từng thấy đông đúc như vậy, cũng khác trước là lần này phong trào đưa lên đỉnh của lượng sóng thần quân chúng thành thị nhiều gương bi trí hùng rực sáng mà sáng nhất và làm vinh dự chẳng cho Phật giáo mà cho cả dân tộc ta trước mắt chăm chú cảm tình của thế giới yêu tiến bộ, dân chủ và hòa bình, là hành động tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức ở Sài Gòn tháng 6 năm 1963.

Lâm Văn Tức- Thích Quảng Đức sau này- chào đời năm 1890 (cùng năm với Nguyễn Tất Thành) tại tỉnh Khánh Hòa. Sau ba năm ngồi tu khổ hạnh trên núi, tựa như Sĩ Đạt Tha dưới gốc bồ đề, ông trở về nhập thế. Năm 1943, ông vào Nam, đi khắp lục tỉnh, lên xứ Biển Hồ, học thêm đạo pháp thắng trong chữ Phạm và hành đạo trong đồng bào của mình. Cuối cùng ông trụ trì ở chùa Quán Thế Âm trước khi tự thiêu để phản đối Ngô Đình Nhiệm bức bách đạo Phật.

Có người sẽ hỏi: hôm nay nghị hưởng ứng vận động hòa bình thế giới, hội nghị nói về Phật giáo và hòa bình, sao bài thuyết trình nói tự thiêu, chứa bom, khở nghĩa, biểu tình?- Thưa rằng có những mối liên quan sâu sắc, gắn bó, nếu thì hòa bình chỉ có hai chữ trống không.

Thật có mối liên quan sâu sắc, gắn bó giữa cuộc đấu tranh cho hòa bình vơi hành động tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức và các hình thái đấu tranh khác của Phật tử Sài Gòn, Huế giữa những năm 60 như biểu tình, tuyệt thực xung đột với cảnh sát dã chiến, đốt xe Mỹ trên đường phố... Những mối liên quan không thể cắt rời đó sẽ nổi bậc lên khi người ta nhắc lại cái bối cảnh lịch sử trong đó Hòa Thượng Thích Quảng Đức đi tới quyết định tự thiêu. Đó là tình hình chính trị miền Nam từ giữa năm 1954 đến giữa năm 1963. Chính năm đó là chính năm đâu thương của phân nữa Tổ quốc và dân tộc mới vừa đi xong đoạn đường khói lửa cũng chín năm đánh Pháp xâm lược.

Phải mất chín năm dài mới có Ddienj Biên Phủ chiến thắng, mới có hội nghị Genève thành công, mới có hòa bình đi lại. Cái giá của hòa bình như thế là đắc biết mấy! Giá máu sông xương núi. Ấy vậy mà chình quyền Diệm- được Mỹ khuyến khích đã lạnh lùng phá ngay Hiệp định Genève, phá ngay hòa bình.

Diệm lập tức khai chiến với những ai đối lập với Diệm, tất cả những ai tán thành hiệp định Genève, tất cả nhưng ai đòi thực hiện các điều khoản về hiệp thương tổng tuyeerncwr, thống nhất đất nước bằng phương pháp hòa bình.

1.Diệm lập tức khai chiến với các cánh Đảng và giáo phái dùng lực lượng quân sự của thực dân cũ để lại, lực lượng quân sự của thực dân mới trang bị và huấn luyện, để tiêu diệt Quốc Dân Đảng và Đại Việt ở Quảng Trị, Quảng Nam, Phú Yên, tiêu diệt Bình Xuyên, Hòa Hảo, Cao Đài ở Sài Gòn, Hậu Giang, Tây Ninh.

2.Diệm lập tức khai chiến với nhân dân miền Nam. Nhân dân miền đã kháng chiến theo lệnh của Cụ Hồ, nhưng cũng đã tuân thủ các điều khoảng của hiệp định Genève. Sau 300 ngày tuyển quân tập kết, trong miền Nam không còn có chính quyền cách mạng, không còn có lực lượng vũ trang. Chỉ bọn Diệm có vũ trang. Đáng lẽ phải tuân thủ hiệp định Genève, không phân biệt đối xử, đáng lẽ phải thực hiện hiệp thương để tông tuyển cử thống nhất bằng phương pháp hòa bình thì chúng tuyên chiến với người kháng chiến cũ ngay từ ngày đầu. Nhân dân miền Nam không có lấy một ngày thực sự hòa bình. Diệm thực hiện chiến tranh một phía nghĩa là chỉ có bên chúng nó mới bắn giết, hành quân bắt bớ mà thôi, trong khi bên kia chỉ có tay không và chủ trương chỉ đấu tránh chính trị. Còn ai quên các vụ tàn sát dữ dội ở Chợ Được, đập Vình Trinh, Mỏ Cày, Trà Ôn? Còn ai quên các chiến dịch tố Cộng, diệt Cộng liên miên và đều khắp? Còn ai không nhớ rằng Diệm đi tới mức đạt Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, để cho báo “Cách mạng Quốc gia” ngày ngày tuyên bố hãy xem Cộng sản không phải là người, phải giết cho sạch? Còn ai không nhớ rằng luật 10/59 Diệm kéo máy chém đi khắp các tỉnh, chém hằng trăm cái đầu để thị uy? Từ năm 1954 đến 1959, Diệm bát giam 28 vạn người, giêt hơn 10 vạn, thủ tiêu không biết bao nhiêu mà kể; chiến tranh một phía của Diệm thực tế là một chiến tranh lớn còn đẩm máu mấy lần hơn cuộc chiến tranh xâm lược chín năm của Pháp. Muốn bảo vệ hòa bình, muốn sống, không thể không đánh lại Diệm; Diệm gieo gió, nó phải gặp bão! Tháng Giêng năm 1960, nông dân Nam bộ đồng khởi! Vùng giải phóng lại hình thành; quân gải phóng được tổ chức; Mặt trận Giả phóng Dân tộc miền Nam Việt Nam ra đời. Mỹ thấy Diệm lâm nguy nên chuyển từ chiến tranh một phía sang chiến tranh đặc biệt mà nội dung chính là càn quét quân sự và cảnh sát để gom lập ấp chiến lược- những trại tập trung kể số hàng ngàn lởm chởm hào chông, raofkemx gai. Nhưng 400.000 quân của Diệm, 25.000 Cố vấn Mỹ không bảo vệ nổi hệ thống ấp chiến lược của Diệm- Nhu. Chiến tranh nhân dân áp thành thị hang ổ của Mỹ-Diệm. Diệm suy yếu, tình hình này thuận lợi cho sự vùng dậy của Phật giáo năm 1963.

Vào năm 1963, Diệm như dại như điên, thực sự là logic với bản thân hắn, Diệm khai chiến luôn với Phật giáo. Từ mấy năm rồi, từ năm 1954 những năm cầm quyền của y, Diệm có ý đồ biến đạo của anh em hắn làm quốc đạo Việt Nam, hắn rập tâm thi hành chính sách phân biệt đối xử với các tôn giáo, chỉ xem đạo của mình mới thật là đạo và được hắn ban cho các đặc quyền, còn các tôn giáo khác chỉ được xem như là phòng hội, cả đạo Phật có cả hàng chục triệu tín đồ, có lịch sử tại chỗ 2.000 năm cũng bị khinh miệt, đàn áp. Diệm thi hành đạo vụ 10 làm cho Phật tử hết sức bất bình. Đấu tranh xuất phát từ đó, đến năm 1963 thì lên đến đỉnh cao nhất, và lên đến đỉnh cao nhất vì Diệm đàn áp Phật giáo với những phượng tiện quân sự và phương pháp tàn bạo mà ngay cả bọn Pháp thực dân hồi cuối thể kỷ 19 đàu thế kỷ 20 cũng chưa hề dám dùng.

Một dặc điểm của tình hình miền Nam Việt Nam năm 1963 là nhiều thành thị, chủ yếu là ở Sài Gòn, Huế nổi lên phong trào đấu tranh chính trị của Phật giáo chống chính quyền Diệm. Trước 1963 chưa có phong trào ở mức đáng kể tuy sự đàn áp của Diệm ngày càng thêm mạnh, sự phân biệt đối xử ngày thêm gây gắt, sự tự do tín ngưỡng ngày càng mất. Phật giáo không có lực lượng vũ trang riêng như Cao Đài, Hòa Hảo, nhưng Phật giáo Việt Nam vốn có lực lượng tinh thần khá lớn bởi vì đã vào lòng người và góp vào lịch sử ve vang của dân tộc. Đạo Phật vốn không hiềm thù với ai về tín ngưỡng mà luôn chủ trương chung sống hòa bình. Phật giáo miền Nam tự tạo ra cho mình một Tổng hôi Phật giáo. Đến năm 1963, đạo Phật toàn miền Nam có 4.776 chùa; Thừa Thiên Huế nhiều nhất, 408 chùa; Sài Gòn 180. Có lẽ do Diệm bắt buộc dân phải khai báo là thuộc đạo nào mà dân thì ngại chữ “không đạo” cho nên nhiều người ghi là Phật tử, số Phật tử chánh thức như vậy càng đông. Thực ra thì trong thời cuộc rối ren đau khổ nhiều thì hàng ngũ đạo Phật phát triển cũng là phải thôi. Mặc dù đạo Phật không chủ trương tranh quyền, không chủ trương hoạt động chính trị, nhưng Diệm cũng không để yên đạo Phật, y đàn áp. Tại cuộc đại hội thành lập Mặt trần Dân tộc Giải phóng miền Trung Nam bộ (1961) Hòa thượng Thích Thiện Hòa tố cáo Diệm đã bắt giam, tra tấn, giết chết hàng loạt nhà sư như Hòa thượng Pháp Long chùa Khánh Quới (Mỹ Tho), Hòa thượng Minh Nguyệt chùa Thiên Thai (Bà Rịa), Hòa thượng Thành Đạo chùa Phật Ấn (Sài Gòn), Yết ma Thiện Nghĩa chùa Dực Lâm (Chợ Lớn), Giáo thụ Minh Giám chùa Long Vân (Gia Định) v.v.. Chúng cắt cổ Sư cả chùa Cát Ong (Cà Mau). Hàng trăm sư sãi bị Diệm lột áo cà sa, đưa vào lính, Hòa thượng hội chủ Tổng hội Phật giáo, ngày 10 tháng 5 năm 1963 tuyên bố rằng: “Từ nhiều năm nay Phật giáo đã bị khủng bố đàn áp khắp nơi, chúng tôi vẫn nhẫn nhục”. Thật ra cũng đã có đấu tranh nhưng lẻ tẻ; đấu tranh mạnh nhất là các nhà sư, các Phật tử thuộc Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Phong trào Phật giáo thành thị bộc phát từ cuộc biểu tình lưu huyết những ngày 7,8 tháng 5 năm 1963 ở cố đô Huế.

Ở Cố đô Huế, cuối hôm 5/5 Ngô Đình Thục làm lễ hết sức long trọng mừng được thăng chức, cờ xí như rừng, đèn đuốt như trăng sao. Trái lại thì Diệm và cậu Cẩn cấm buổi lễ Phật Đản ngày 8/4 Âm lịch, lấy cớ rằng trùng với ngày lễ Quốc tế lao động 1/5, bảo phải dời lại ngày rằm tháng 4, rồi lại cản nữa lấy cớ rằng ngày chiến thắng Điện Biên Phủ. Khi được làm lễ Phật Đản thì nhà cầm quyền phải bắt làm đơn giản và không được treo cờ Phật giáo quốc tế. Uất khí dồn ép quá tất phải nổ ra, nhưng nổ ra một cách hòa bình thôi. Ấy vậy mà Phật tử Huế tập hợp ở Đài Phát thanh bị Cẩn và Đặng Sĩ đưa quân lính, xe thiết giáp, súng liên thanh đến đàn áp dữ dội, làm 12 người chết (trong đó có mấy nam sinh, nữ sinh bị xe cán dẹp!), 17 người bị thương!

Ngày 10, hội Phật giáo Huế lên án những kẻ lợi dụng quyền hành gây ra không biết bao nhiêu tang tóc cho Tăng ni và tín đồ Phật giáo trong khắp nước, đối xử bất công với một tôn giáo có hàng ngàn năm lịch sử. Hội đưa ra một bản yêu sách 5 điểm. Ngô Đình Diệm đã không nhân bản yêu sách 5 điểm, đòi chấm dứt khủng bố, tự do tín ngưỡng, chống phân biệt đói xử.

Rồi ở Sài Gòn, Diệm đã cản ngăn các cuộc lễ truy điệu Phật tử bị giết ở Huế, ra lệnh cho Tướng Tôn Thất Đính đem quân lục soát các chùa lớn, đánh đập hàng trăm sư sãi, bắt giam hàng ngàn Tăng Ni và thanh niên sinh viên Phật tử.

Rõ ràng quá: Diệm khai chiến với Phật giáo và Phật tử Huế, Sài Gòn, cả miền Nam.

Nay Hòa Thượng Thích Quảng Đức phát nguyện tự thiêu để đòi Diệm thực hiện yêu sách 5 điểm để chống Diệm là kẻ khai chiến với tất cả những ai không chịu quỳ gói trước mắt hắn, thì đó, nếu không phải là hành động chống chiến tranh phản động, chống chiến tranh xâm lược Mỹ, thì là gì? Đó, nếu không phải là hành động bảo vệ hòa bình, vì hòa bình mà hi sinh thì là gì? Tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức là một hành động chống chiến tranh, chống kẻ chủ trương chiến tranh phản động, chống chiến tranh xâm lược. Vậy, đã rõ mối quan hệ khắng khít giữa biểu tình của thanh niên, tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức và đồng khởi của nông dân với đấu tranh cho hòa bình, cho công lý. Tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức nhằm một mục tiêu cao cả:

Khói thơm cảnh tỉnh ai còn ngốc

Tro trắng bừng san hố bất bình.

Mục tiêu cong lý xã hội và cả mục tiêu vì dân tộc giống nòi:

Đã mang đoang thể con nòi giống

Bi trí hùng sao chăng đem ra?

Nếu quả thơ là nổi lòng thì Hòa Thượng Thích Quảng Đức chẳng những đấu tranh cho công lý hòa bình, mà cũng thiết tha hết sức đến giống nòi Việt Nam; nhà sư là một người yêu nước, Ngài yêu nước theo phong cách của một nhà sư.

Có người bảo: “Tự thiêu là một hành động tiêu cực, cá nhân, không hẳn là một cuộc đấu tranh”.

Có thể là như vậy. Chớ nếu đem bom đặt trong xe của Diệm thì không phải là nhà sư Thích Quảng Đức nữa rồi! Tháng 11 năm 1960, có người phải lái máy bay ném bom dinh Độc Lập của Diệm; hành động ấy quả là tích cực. Nhưng sau khi quả bom là sạt một góc tòa nhà, thì ở Sài Gòn không thấy nổi lên một phong trào nào.  Sao có thể so sánh với tình hình sau một cuộc tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức? “Tích cực” của phi công nổi loạn cũng có tác động lớn về một mặt khác, nhưng không dẫn ngay đến một cuộc chiến tranh nào. Còn “tự thiêu” của nhà sư, trái lại đã trực tiếp gây nên làn sống dư luận và đấu tranh rất lớn.

Trung ưng Mật trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam liền tổ chức hôm 12 tháng 6, lễ truy điệu long trọng cho Hòa Thượng Thích Quảng Đức. Tại thủ đô Hà Nội, trong 2 ngày liền, 80.000 đồng bào thủ đô xuống đường ủng hộ phong trào phật tử miền Nam. Ngày 16 tháng 6, từ 50 đến 70 vạn nhân dân Sài Gòn biểu tình đưa thi hài Hòa Thượng Thích Quảng Đức đến nơi hỏa táng. Hôm đó, Diệm huy động hơn 5.000 cảnh sát và nhiều đơn vị bộ binh dùng hàng rào kẽm gai ở các góc phố chính; hắn buộc Tổng hội Phật giáo phải hoản lại cuộc lễ, lấy cớ rằng sợ Việt cộng thừa cơ ném lựu đạn! Diệm tự ý cho xem quân sự báo tin hoãn cuộc lễ. Nhưng đông bào Sài gòn bất chấp mọi de dọa của Diệm, đồng bào cứ biểu tình. Hàng vạn, hàng vạn học sinh, sinh viên, nhân dân rầm rộ từ các nẻo kéo tới chùa Giác Minh, Xá Lợi tiến như nước vỡ bờ đi tới đâu thì đẩy bạt cảnh sát và quân lính của Diệm. Cảnh sát, lính ngụy ném lựu đạn cay, xả súng vào quần chúng, huơ dùi cui. Quần chúng biểu tình bắt lựu đạn ném lại, dùng guốc dép, gạch đá, củi ném trả như mưa. Hai bên xô xát dữ dội trên hàng chục đường phố. Tiếng súng, tiếng lựu đạn, tiếng còi không cản nổi dân Sài Gòn tập hợp, biểu tình mỗi lúc thêm đông. Tan cuộc rồi, đườn phố ngỗn ngang guốc, đá, nón, củi. Mấy hôm sau, tổng hội làm lễ hỏa táng cho Hòa Thượng Thích Quảng Đức theo ngày ấn định của Diệm, thì chỉ có 1.150 người đi trên xe cảnh sát, còn đồng bào Sài Gòn xem như đã đưa đám Hòa thượng một cách xứng đáng với Ngài bằng một cuộc biểu tình khổng lồ, băng những trận đánh tay không suốt cả ngày.

Như vậy nhìn vào tác động, động viên hành động tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức thật khó chấp nhận cái ý kiến nông cạn rằng Hòa thượng tự thiêu chỉ là một hành động cá nhân, tiêu cực.

Âm vang còn dài trong nước và thế giới.

Nếu tháng 7, phong trào Phật giáo chìm xuống như để lấy sức sau một hành động, thì tháng 8 phong trào lại lên. Nhiều vị tu hành theo gương Hòa Thượng Thích Quảng Đức. Phong trào quân chúng lao động sôi nổi có nhân dân lao động tham gia. Quân lính và cảnh sát của Diệm đêm 20 tháng 8, tiến công và đánh phá hầu hết các ngôi chùa, các trường đại học, đánh chết hàng chục sư sãi và bắt giam hàng trăm sinh viên, thiết quân lực ở thành thị. Chủ tịch Hồ Chí Minh lên tiếng (28/8/1963)

“Gần đây, ở miền Nam Việt Nam lại xảy ra thêm một tình trạng cực kỳ nghiêm trọng và đau thương. Bọn Ngô Đình Diệm đốt phá chùa chiền, khủng bố sư sãi và đồng bào theo đạo Phật. Chúng đóng cửa các nhà trường, bắt bớ hàng loạt giáo sư và sinh viên, học sinh. Tội ác dã man của chúng, trời đất không thể dung. Hành động hung tàn của chúng, nhân dân ta đều căm giận. Cả thế giới đều lên tiếng phản đối. Nhân dân tiến bộ Mỹ cũng tỏ ra bất bình.

Bè lũ Ngô Đình Diệm đã gây ra những tội ác tày trời là vì có quan thầy Mỹ ủng hộ chúng. Đế quốc Mỹ là kẻ đã phá hoại Hiệp định Genève, là kẻ đã vũ trang xâm lược miền Nam Việt Nam, là kẻ đã nuôi dưỡng bọn Ngô Đình Diệm buôn dân, bán nước.

Chính do tội ác của Mỹ-Diệm mà đồng bào miền Nam ta suốt chín năm nay bị cảnh nước sôi mà Tổ quốc ta bị tạm thời chia cắt.

Trước tình hình ấy, đông bào miền Nam ta đoàn kết nhất trí không phân biệt sĩ, nông,công, thương, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, kiên quyết đấu tranh để giành lại tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng.

Dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng, cuộc đấu tranh chính nghĩa của đồng bào miền Nam đực ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, nhất định giành được thắng lợi cuối cùng...

Thay mặt nhân dân Việt Nam, tôi chân thành cám on nhân dân và chính phủ các nước Phật giáo, các xã hội chủ nghĩa anh em, cảm ơn nhân dân yêu chuộng hòa bình và chính nghĩa trên thế giới, cảm ơn cảm ơn nhân dân và nhân sĩ tiến bộ nước Mỹ đã gnhieem khắc lên án Mỹ- Diệm và nhiệt tình ủng hộ nhân dân miền Nam Việt Nam...

Thay mặt toàn thể đồng bào miền Bắc, tôi thân ái chúc đồng bào miền Nam: đoàn kết, đấu tranh, thắng lợi”.

Hành động của Hòa Thượng Thích Quảng Đức, đấu tranh của đồng bào Phật tử miền Nam, đều thuộc vào phong trào hòa bình thế giới và được sự ủng hộ, sự kính phục của nhân dân yêu chuộng hòa bình các nước, là lẽ rất tự nhiên.

Từ ấy đến nay, đã non 25 năm rồi, nhân loại và dân tộc ta bận rộn với nhiều vấn đề nóng bỏng tính thời cuộc, vậy mà tôi có dịp đi qua ngã tư Cánh Mạng Tháng 8 – Nguyễn Đình Chiểu, tôi vẫn nhớ hình ảnh người đồng bào của tôi đã xếp bằng không động đậy trong khối lửa hồng, cho đến khi người cháy đen đổ xuống. Bi hùng biết mấy! Lịch sử Phật gaiso nước ta có ghi rằng, một ngàn năm, trăm năm trước đây, trước sswcs ép của tư tưởng duy lý trên nên thịnh, vị Đại sư Đàm Hoàng, trụ trì ngôi chùa Tiên Sơn, Bắc Ninh đã phát nguyện tự thiêu để chứng minh rằng người chân tu thì thành Phật, chứng minh sự tồn tại của Tây phương Tịnh độ. Còn đại sư Thích Quảng Đức của chúng ta thì tự thiêu vì mọt tấm lòng yêu thương đồng bào, vì công lý chống bạo ngược phát xít, mong san phẳng những nổi bất bình, nghĩa là vì con người, vì cuộc sốn trên mặt đất nước nhà, cũng nghĩa là sát với chánh pháp Phật giáo là cứu khổ cứu nạn “giúp sanh linh” là lời nguyện của Hòa thượng, ngay cả khi thân xác chảy ra tro trắng rồi đi nữa, vẫn còn lời nguyền “thần thức nương về giúp sinh linh”. Ai trong chúng ta hôm nay không biết rằng cuộc sụp đổ của chính quyền độc tài gia đình trị họ Ngô ngày 1 tháng 11 năm 1963 bên cạnh nguyên nhân cơ bản là phong trào giải phóng của quần chúng đồng khởi liền tục đầu năm 1960 có yếu tố Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu đã góp phần động viên Phật tử và nhân dân đến cao độ, còn hành động đảo chính các lĩnh tướng chỉ là những nước cờ của CaBốt Lodge nhằm thay ngựa giữa dòng.

Phật giáo bản chất là hòa bình.

Phật giáo dã bắt rễ, thịnh đạt từ 2.000 năm nay trên đất Việt Nam, tất không thể không mang đậm tính lớn của dân tộc Việt Nam là chiến đấu kiên trì, chiến đấu quyết liệt cho độc lập tự do. Vì vậy Phật giáo Việt Nam đã mang bản chất hòa bình, lại đồng thời mang tính chất chiến đấu cho chính nghĩa phát sinh trong cả một quá trình lịch sử lâu dài. Hòa Thượng Thích Quảng Đức là sản phẩm cao quý của Phật giáo Việt Nam. Các bạn cho phép tôi nhận xét rằng giữa Cộng sản và Phật giáo có nhiều điểm tương đồng, trước hết là đức lớn, huy sinh vì lợi ích của dân, một bên là vô ngã tự tha, một bên mỗi người vì mọi người, hai bên gắn bó góp phần xây dựng một thế giới không chiến tranh xâm lược, một xã hội không giai cấp bóc lột giai cấp, không dân tộc áp bức dân tộc, ở đó là nơi sở nguyện của Hòa Thượng Thích Quảng Đức.

 

Giáo sư TRẦN VĂN GIÀU

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới Thiệu:

    Chùa Sắc Tứ Khải Đoan là ngôi chùa đầu tiên của tổ chức Phật Giáo có mặt tại Đaklak, được xây dựng vào năm 1951. chùa tọa lạc trên khu đất rộng 7 mẫu 8 sào 28m2, do Đoan Huy Hòang Thái Hậu Hòang Thị Cúc hiến cúng cho Tổng Hội Phật Giáo trung phần.

Thông báo

Ảnh chùa

Số Lượng truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 72

Máy chủ tìm kiếm : 4

Khách viếng thăm : 68


Hôm nayHôm nay : 2972

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 62368

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4896125