Tiểu sử cố Hòa thượng Thích Đức Thiệu

Thứ năm - 31/03/2016 08:22
Năm 1954 sau ngày đình chiến, do yêu cầu Phật sự tại các Tỉnh Cao Nguyên, ngài được hội Phật Giáo Trung Phần bổ nhiệm trú trì Chùa Khải Đoan, TP. Buôn Mê Thuộc, Tỉnh Hội Phật Giáo ĐakLak
Tiểu sử cố Hòa thượng Thích Đức Thiệu
Giáo Phẩm Chứng Minh kiêm Đặc ủy Tăng Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Lâm đồng
 
 
 
Hòa Thượng húy Nguyên Minh, tự Đức Thiệu hiệu Hải Ấn, tự pháp đời thứ 44 dòng Thiền LâmTế Chánh Tôn, thế danh Bùi Xuân Quang, sinh ngày 11 tháng 10 năm kỷ mùi (1919) có một số giấy tờ hộ tịch ghi Hòa Thượng sinh năm (1911) tại làng Nam Phổ Trung, xã Phú Thượng, huyện Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên Huế thân phụ là cụ Bùi Xuân Lai. Thân mẫu là bà Nguyển Thị Nghẹt. Hòa Thượng là con trai út trong một gia đình Gồm ba anh em trai, và một chị gái. Hòa Thượng Vốn được sinh ra trong một gia đình có truyền thống tin Phật lâu đời, hai anh trai của Hòa Thượng đều xuất gia, và rất nổi tiếng, đó là Hòa Thượng Thích Viên Thông, và Hòa Thượng Thích Trí Toàn.
 
Từ năm lên bảy ngài được thân mẫu, thân phụ cho phép xuất gia tại Chùa Viên Thông, và sau đó về làm đệ tử của đức Hòa Thượng THÍCH TRÍ THỦ lúc này ngài đang làm trú trì Chùa Ba La Mật TP. Huế. Và sau đó được đức Hòa Thượng Bổn Sư  cho phép tòng học tại Phật Học Đường Báo Quốc do Đại Sư THÍCH TRÍ ĐỘ làm giám đốc.
 
Năm 1938 ngài được thụ sa di giới tại Chùa Đại Bi, Tỉnh Thanh Hóa, sau hơn 15 năm tòng học tại Phật học đường Báo Quốc, sở học và phạm hạnh của ngài vượt bực, ngài được đức Hòa Thượng Bổn Sư cho phép chính thức thụ phong, và đắc giới cụ túc tại Hộ Quốc Đại giới đàn tổ Chức năm Kỷ sửu (1949) tại tổ đình Báo Quốc, dưới sự chứng minh của đức đại lão Hòa Thượng đệ nhất Tăng Thống  THÍCH TỊNH KHIẾT làm đàn đầu đại giới đàn này do đức Hòa Thượng THÍCH CHÁNH THỐNG và đức Hòa Thượng THÍCH TRÍ THỦ làm chánh phó chủ đàn.
 
Cuối năm 1951 ngài được tổng hội Phật Giáo Trung Phần bổ nhiệm làm trú trì Chùa Viên Giác Cầu Đất, xã Xuân Trường , TP. DaLat và ngài trùng tu ngôi phạm vủ này trở nên to lớn  trang nghiêm hơn.
 
Năm 1954 sau ngày đình chiến, do yêu cầu Phật sự tại các Tỉnh Cao Nguyên, ngài được hội Phật Giáo Trung Phần bổ nhiệm trú trì Chùa Khải Đoan, TP. Buôn Mê Thuộc, Tỉnh Hội Phật Giáo ĐakLak.
 
Đến năm 1957 ngài nhận chức Chánh Đại Diện Hội phật Giáo Tỉnh PleiKu và trú trì Chùa Bửu Thắng trong thời gian từ năm 1958 đến 1960 ngài lên truyền bá chánh pháp tại Huyện Cheo Reo, là một Huyện miền núi xa xôi hẻo lánh, khi đó ngài đã khai sơn Chùa Bửu Minh và đã trở thành cơ sở Phật Giáo Tỉnh Hội Phú Bổn sau này( nay thuộc Tỉnh Gia Lai ), đồng thời ngài cũng Đứng ra xây dựng Chùa Bửu Tịnh thuộc huyện Ayonpa và thành lập Phật Giáo Huyện này. Đầu năm 1959 mặc dù bận nhiều Phật Sự ở tại Tỉnh Phú Bổn,ngài đã đáp ứng  nguyện  vọng của Phật Tử Tỉnh Kom Tum  Đứng ra xây dựng và làm trú trì  Chùa Hồng Từ, Chùa này cũng đã trở thành cơ sở Phật Giáo Tỉnh Hội Kom Tum ngày nay.
  
Đến năm 1960 Giáo Hội Phật Giáo Trung Phần bổ nhiệm ngài làm trú trì và kiêm hoằng PhápTại Chùa Tỉnh Hội Phật Giáo Phan Thiết ở đây ngài đả lãnh đạo phong trào đấu tranh bảo vệ tín ngưỡng năm 1963.
 
Sau năm 1964 ngài được Hội Phật Giáo điều về làm Chánh Đại Diện Hội Phật Giáo tỉnh Kom Tum.
 
Từ năm 1967 trở đi ngài trở về hành đạo tại TP. DaLat nhưng vẩn thường xuyên đi về hoằng pháp và cố vấn lảnh đạo cho các đàn em, đang làm Phật sự tại các tỉnh Cao Nguyên, là những nơi mà ngài đã từng lãnh đạo và xây dựng trườc đây như : PleiKu, Phú Bổn, Kom Tom, Buôn Mê Thuộc, Đà Lạt. V V.
 
Ngài là một trong những vị đầu tiên đem chánh Pháp lên hoằng hóa trên vùng  Cao Nguyên vào những thập niên đầu của thời kỳ chánh hưng Phật Giáo, nên ánh sáng chánh pháp và các mgôi phạm vũ được xây dựng trùng hưng khắp nơi trên những miền cao nguyên hẻo lánh. Để mọi người biết đến chánh pháp, và thực hành xây dựng đời sống an lạc tại vùng cao nguyên rộng lớn, ngài xứng đáng là một hành giả đi đầu trong sứ mệnh hoằng dương chánh pháp, thừa Như Lai sứ, hành Như Lai sự. Và vị trí của ngài là vị trí của người khơi nguồn mở mạch. Do công hạnh tận tuỵ suốt đời phục vụ không biết mệt mỏi cho sự nghiệp tu học và hoằng hoá của ngài, nên vào năm 1973 ngài được đức Hòa Thượng Bổn Sư Thích Trí Thủ đã ấn chứng cho ngài làm trưởng tử, và ban cho bài kệ phú pháp như sau:
 
DĨ ĐỨC THIỆU GIA PHONG
CỔ KIM NHƯ THỊ ĐỒNG
XUÂN QUANG HƯƠNG BẤT TẬN
HẢI ẤN THỂ HÀM DUNG
Tạm dịch là
LẤY ĐỨC NỐI GIA PHONG
XƯA NAY ĐIỀU NHƯ VẬY
XUÂN QUANG THƠM CÙNG KHẮP
THỂ HẢI ẤN BAO DUNG
 
Sau năm 1974 thể theo nguyện vọng của bốn chúng đệ tử,và lời thỉnh cầu của Hòa Thượng Thích Minh Cảnh, ngài đã về thường trú tại Tổ Đình Chùa Linh Quang TP. ĐaLat.
 
Chùa Liên Trì, ngôi chùa Hòa thượng trụ trì trước khi viên tịch
 
Sau năm 1982 khi Ban Tri Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Lâm Đồng thành lập, ngài đã được chư Tăng Ni, và quý Phật Tử cung thỉnh vào hàng Giáo Phẩm Chứng Minh, kiêm Đặc ủy Tăng Sự thuộc Ban Tri Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Lâm Đồng.
 
Năm 1987 sau khi Hòa Thượng Thích Minh Cảnh viên tịch, Ban Tri Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Lâm Đồng, đã cung thỉnh ngài làm trú trì Tổ Đình Linh Quang, ngài đã đích thân chỉ đạo cùng với Đại Đức tri sự Thích Thanh Tân trùng tu ngôi Tổ Đình Chùa Linh Quang được trang nghiêm cổ kính như hiện nay, và cùng năm này ngài đã được Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt nam tấn phong giới vị Hòa Thượng.
 
Đầu năm 1988 ngài nhận thấy ngôi Chùa Liên Trì . là một ngôi Chùa nhỏ tọa lạc trên một ngọn đồi cao cũng là một nơi cơ sở của Giáo Hội và có nhiều gắn bó với lịch sử cách mạng đang xuống cấp và hoang phế, ngài đã đứng ra xin phép trùng tu, và đích thân làm trú trì  và ngài đã sống tịnh tu ở đây cho đến ngày cuối cùng.
 
Tháng giêng năm 1993 ngài đã 75 tuổi, sức khỏe yếu rất nhanh, ngài cảm thấy sắp đến ngày xả báo thân. Nên tuy sức yếu nhưng ngài yêu cầu được đi thăm những nơi. như Tổ Đình. Chùa Linh Sơn và vào TP. HCM để dự lể huý nhật và là nơi ghi lại dấu chân hoằng hóa cuối cùng của Đức Hòa Thượng Bổn Sư Thích Trí Thủ, và đến tháng tám năm 1993 Ban Tri Sự,vàHòa Thượng Trưởng Ban cùng chư tôn thiền đức nhận thấy sức khỏe của ngài đã giảm sút nên quyết định cung thỉnh ngài về tịnh dưỡng tại Tổ Đình Linh Quang để việc chăm sóc sức khỏe và để cho tứ chúng đệ tử được thân cận cung dưỡng ngài thuận tiện hơn.
 
Đến ngày 11 tháng 10 năm quý dậu nhằm ngày (24-11-1993) ngài đã an nhiên thị tịch vào lúc giờ thân tại Tổ Đình Linh Quang TP. DaLat ngài hưởng thọ 75 tuổi đời và 45 đạo, để lại  vô vàn tiếc thương cho môn đồ hiếu quyến, và Tăng Ni Phật Tử trong nước cũng như ngoài nước nói chung, và Tỉnh Lâm Đồng nói riêng. Tất cả đã hoài vọng đến ngài với nhiều kính mến sâu sắc, và niềm tri ân vô hạn.
 
Đối với ngài là một cao tăng, đã trọn đời hy sinh phục vụ cho sự nghiệp, hoằng dương và tu học chánh Pháp vô thượng, đã đem lại lợi lạc quần sanh, những công hạnh của ngài thật là lớn lao đối với Giáo Hội trong việc truyền bá chánh pháp.
 
 Bảo tháp trong khuôn viên chùa Liên Trì, Đà Lạt
 
 NAM MÔ TỰ LÂM TẾ CHÁNH TÔN TỨ THẬP TỨ THẾ, SẮC TỨ LINH QUANG TỔ ĐÌNH VIỆN CHỦ TRÙNG HƯNG LIÊN TRÌ TỰ TRÚ TRÌ HÚY THƯỢNG NGUYÊN HẠ MINH TỰ ĐỨC THIỆU HIỆU HẢI ẤN BÙI CÔNG ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG GIÁC LINH THUỲ THỬ CHỨNG MINH.
 
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới Thiệu:

    Chùa Sắc Tứ Khải Đoan là ngôi chùa đầu tiên của tổ chức Phật Giáo có mặt tại Đaklak, được xây dựng vào năm 1951. chùa tọa lạc trên khu đất rộng 7 mẫu 8 sào 28m2, do Đoan Huy Hòang Thái Hậu Hòang Thị Cúc hiến cúng cho Tổng Hội Phật Giáo trung phần.

Thông báo

Ảnh chùa

Số Lượng truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 89


Hôm nayHôm nay : 1275

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 51763

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3364729