Đôi nét về mặt kiến trúc

Thứ năm - 31/03/2016 08:24
Ngôi chùa Khải Đoan thời gian xây dựng không xa chúng ta bao nhiêu, song về kiến trúc độc đáo vừa mang dáng dấp kiến trúc triều nguyễn, vừa mang yếu tố bản địa. Nhìn đại thể cấu trúc theo hình chữ “tam” ( 三 )

Trước: Cổng Tam quan
Giữa:  Chùa chính (Chánh điện)
Sau:     Nhà hậu Tổ
Cổng cao khoản 9m, rộng 12m, tường dày từ 40-60cm, chiều sâu cổng day khoản 3m. Dáng cổng đồ sộ, hùng tráng. Tầng trên như một vọng gác, có 3 cửa có thể ra vào được nhưng chỉ để vong. Bên trong lầu chính thờ thần hộ pháp, theo truyền thuyết thì đây là vị thần bảo vệ chùa.
 
Từ cổng Tam quan đi vào, bên phải chánh điện là điện Quan Âm, bên trái là điện Di Đà. Sau cách chánh điện một khoảng sân rộng là nhà thờ Tổ - trí linh.
 
Cổng Tam quan: Đây là kiến trúc tương đối hoàn chỉnh gồm hai tầng với ba vòm cửa, cổng cao 7m, rộng 10,5m, dày 3m, Bên ngoài nhìn vào cổng, tầng trên ghi ba chữ “KHẢI ĐOAN TỰ “啟端守”.
Hai bên có bốn câu đối ghi:
          山水有情門精舎
            Sơn thủy hữu tình môn Tịnh xá
        煙雲無盡謢法門
            Yên vân vô tận hộ pháp môn
    Dịch nghĩa:
            Non nước hữu tình đoanh tịnh xá
            Khói mây vô tận giữ pháp môn
    Hai câu ngoài:
        盡把好風藏寺裏
            Tận bả hảo phong tàng tự lý
        不教 幽景落人間
            Bất giáo u cảnh lạc nhân gian
    Dịch nghĩa:
            Biết bao cảnh đẹp trong Tịnh xá
            Dễ đâu tìm thấy giữa nhân gian.
    Bốn câu tầng dưới:
        暮鼔辰錘驚醒人間行正道
            Mộ cổ thần chung cảnh tỉnh nhơn gian hành chánh đạo
        宣經說法普通天下起慈心
            Tuyên kinh thuyết pháp phổ thông thiên hạ khởi từ tâm
    Dịch nghĩa:
        Sáng chuông chiều trống, cảnh tỉnh người đời theo nẻo chánh.
        Giảng kinh nói pháp, khắp nơi thiên hạ phát từ tâm.
    Hai câu trong:
          啟入禪門自覺圓成無二法
            Khải nhập thiền môn tự giác viên thành vô nhị pháp
        端嚴佛子修行得道有三乘
            Đoan nghiêm Phật tử tu hành đắc đạo hữu tam thừa
    Dịch nghĩa:
            Vào cửa thiền môn tự giác tròn đầy, không phân biệt.
            Phật tử trang nghiêm, tu hành đắc đạo, đủ tam thừa.
Từ trong sân chùa nhìn ra cổng, chúng ta thấy tầng trên chính giữa cổng đề 3 chữ “NHƯ LAI TẠNG” (如來藏)
    Hai bên có 4 câu đối:
            Hai câu giữa:
       佛法有現前
            Phật pháp hữu hiện tiền
       眾生登彼岸
            Chúng sanh đăng bỉ ngạn
    Dịch nghĩa:
            Phật pháp hiển hiện bày
            Chúng sanh thoát bờ mê.
    Hai câu hai bên:
       佛正遍知超法界
            Phật chánh biến tri siêu pháp giới
       教真實義度群生
            Giáo chơn thật nghĩa độ quần sinh
    Dịch nghĩa:
            Phật chánh biến tri siêu pháp giới
            Giáo nghĩa chơn thật cứ quần sanh
    Bốn câu tầng dưới ghi chữ Việt:
    Hai câu trong:
        Thuyền Bát nhã ra tay tế độ, cứu người bể trầm luân
        Nơi Phật đài mở dạ từ bi, giúp kẻ si mê lầm lạc.
    Hai câu ngoài:
        Gióng mỏ khuyên răn kẻ làm lành
        Tiếng chuông thức tỉnh người lánh dữ
 
             Tầng trên cổng, vòm giữa thờ tượng Ngài Hộ pháp biểu trưng sự gìn giữ hộ trì chánh pháp. Sau cổng tam quan là m khoảng sân rộng trước chánh điện.
 
            Chánh điện là công trình chính của cấu trúc chùa, được chia làm 3 gian, 2 chái theo lối cổ, rộng thoáng mát. Tại trung tâm chánh điện, phía trên là bảng hoành phi chạm trổ hình (Lưỡng long chầu nguyệt) rất công phu, chữ Hán được thếp vàng là bảng tên chùa vua, được viết chữ Hán là “Sắc tứ Khải Đoan tự”    (敕賜啟端守)
 Bên phải là hàng chữ “Triện” nhỏ ghi: “Bảo Đại Quý Tỵ niên mạnh xuân cát nhật”                            (保大癸巳年孟春吉日)
            Bên trái ghi: “Quốc vương từ tế đạo nhân ngự đề”
            國王慈漈道人御提
            Phía dưới chính giữ chữ “ĐOAN” (端) là “Từ Cung” (慈宮) khắc theo khuôn dấu hình vuông.
Đứng ở giữa chánh điện có cấu trúc mặt bằng hình chữ “Nhựt”     (日)
(16 x 20 m) chùa làm hai phần, nữa phần trước chánh điện mang dáng dấp nhà dai Tây nguyên mà ngược lại kiến trúc cột kèo theo mẫu nhà rường cố đô Huế. Toàn bộ cột đặt trên 4 cột đá nâng kiến trúc lên khỏi mặt đất tạo thành kiểu sàn ở trên cột.
 
            Khi vào bên trong xem xét thật kỹ, thấy toàn bộ giàn trò mới thật sự hết sức độc đáo. Để mở rộng lòng nhà, hàng cột giữa được cắt bỏ và nâng lên thành chồng rường trên bộ khung dài. Hai dãy cột chính lùi vào vách, nối với nhau bằng một xà ngang, lối kiến trúc nầy đặc trưng cho nhà Tây nguyên, có tác dụng làm cho nhà phát triển theo chiều dài. Điều thú vị nữa là nhà rường không có bộ phận đỡ đòn nóc, vả lại nơi đây xuất hiện một cột rốn từ đòn nóc đến chính giữa rường, khiến cho ta liên tưởng đến kiến trúc nhà của một số dân tộc thiểu số ở Tây nguyên nói chung, nổi bật là ở Daklak.
 
            Phần nửa sau thì hoàn toàn xây theo kiến trúc hiện đại (xi măng, bê tông cốt thép), vì phần nầy muốn nới rộng phần chánh điện. Chính giữa phần chánh điện dưới nhà sàn gỗ là nhà trước chánh điện theo lối kiến trúc nhà dài Tây nguyên, thì ngay dưới sàn có gạch nối giữa phần trước và sau chánh điện theo lối kiến trúc hiện đại, thì chánh giữa gạch nối giữa hai cột ấy ta nhìn thấy hai tâm liễn đối treo hai bên cột chánh điện có hai dòng chữ ghi:
            Cột bên phải ghi:
 塵劫或然那一朝南比爪分無罪眾玍臨苦海
Trần kiếp hoặc nhiên na nhứt triêu Nam Bắc qua phân vô tội chúng sanh lâm khổ hải                  佛心如在者千古啟端蓮坐有依方便普慈雲
Phật tâm như tại giả thiên cổ Khải Đoan liên tọa hữu y phương tiện phổ từ vân
佛子:廣慧- 杜楊林o供進- 乙未年仲冬       (1955)
Phật tử: Quảng Huệ – Đỗ Dương Lâm, cung tiến Ất Mùi niên trọng Đông (1955)
            Dịch nghĩa:
Trần kiếp vô thường, một sớm phân chia Nam Bắc, chúng sanh vô tội chìm trong bể khổ.
Phật tâm thường tại, muốn mở bày Khải Đoan, hằng phóng tòa sen độ kẻ trầm luân.
            Hay là:
Trần kiếp vô thường, một sớm Nam Bắc phân chia, chúng sinh vô tội chìm trong bể khổ.
Phật tâm thường tại, muôn thuở Khải Đoan mở bày, hằng phóng tòa sen độ kẻ trầm luân.
            Phía sau chánh điện là nhà hậu Tổ, hai giang hai bên nhà thờ tổ là thờ các Hương linh (các tín đồ Phật giáo mất), chính giữa thờ Tổ, hai bên trước bàn thờ treo hai câu đối nền đem thếp chữ vàng
            Câu bên phải ghi: 看曼陀華莊嚴絕妙
                            Khán  mạn đà hoa trang nghiêm tuyệt diệu.
            Câu bên trái ghi:   證菩提壽色相皆空
                             Chứng Bồ đề thọ sắc tướng giai khôn
        信嬡: 記, 法名: 潤技,癸巳        (1953) 恭 進-             Tín ái: Ký, pháp danh Nhuận Ky, cung tiến – Quý Tỵ (1953)
            Dịch nghĩa:
                        Trên hoa Mãn Đà thấy trang nghiêm tuyệt diệu
                        Dưới cội Bồ Đề rõ sắc tướng đều không
Phật tử:
            Chính giữa thờ Tổ là thờ chư vị Giác linh Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, chư vị hữu công khai sáng, tạo lập, trùng tu ... được thờ tự một cách trang nghiêm, điều đặc biệt thờ đức Từ Cung và vua Khải Định ở chính giữa.
            Bên trái chánh điện là Điệm Quán thế Âm được tạo dựng năm 1970 rất công phu, tượng Quan Âm đứng trên đài sen, đặt giữa hồ tròn, trước có hình “Long mã phù đồ” nối với một chiếc cầu xi măng bắt qua ...
Quan Thế Âm xây dựng kiểu hình lục giác, 6 trụ đều được đắp hình rồng uốn lượn mềm mại quang trụ, mái tháp 3 tầng. Tất cả phần chính của Quan Âm cát được nâng lên giữa mặt hồ có lan can bao bọc, bảo vệ toàn bộ Quan Âm cát và lòng hồ là một la thành chắn song sắt thoáng đạt hài hòa, dẫn vào bảo tòa Quan Âm cát (? ? ?) bằng một cổng hai trụ bê tông, trên trụ là 2 búp sen hồng. Mặt trước 2 trụ có hai câu đối:
             鳳閣莊嚴觀自在
        Phụng cát trang nghiêm Quán tự tại
        蓮壯麗見如來
        Liên đài tráng lệ kiến Như Lai.
            Cạnh hai thân trụ cổng được bố trí 2 con nghê vờn báng. Trung tâm cát là tượng Quan Thế Âm Bồ tát ngự trên tòa sen trắng.
            Quan Âm cát được tạo lập từ năm 1970, do Đại đức Thích Quán Tâm chỉ đạo và thực hiện là các thợ nề của Huế.
            Phía Tây Nam của chánh điện là ngôi Bảo tháp an phần thi hài Hòa thượng Thích Quan Huy, vị trụ trì và là Trưởng Ban Trị sự Phật giáo Daklak nhiệm kỳ I và II (1986-1993).
            Tháp được xây dựng theo kiểu cổ lầu thờ bảo tượng, mái cổ lầu hình lục giác,  6 góc mái của 2 tầng có hình dao uốn lượn, đỉnh tháp là búp sen. Phần cổ lầu gắn phù điêu mô tả cuộc đời Phật tổ, phần dưới cổ lầu trang trí phù điêu đắp nổi cảnh bông hoa chim thú. Mặt tháp hướng Đông Nam được trang trí hiệu tháp: “CÔNG ĐỨC TẠNG’
Bên trong lòng tháp tôn trí bảo tượng phật A Di Đà ngự trên đài sen trắng. CoÏng sen là một trụ hình lục lăng, 6 mặt ghi bia ký bằng chữ Việt, riêng mặt trước là di ảnh của Hòa thượng Thích Quang Huy, 5 mặt còn lại là ghi công đức của những vị tiền nhân quá vãng đã có công tạo dựng chùa, truyền bá Phật pháp, đóng góp vào sự hưng thịnh của đạo cũng như đời. Đó là công đức tạo dựng của Đoan Huy Hoàng thái hậu – chánh phi của vua Khải Định, người đã hiến cúng sở đất gần 8ha để xây dựng chùa; Hòa thượng Thíhc Đức Thiệu – người đã trực tiếp trông coi việc xây dựng và là trụ trì đầu tiên chùa Khải Đoan; Thượng tọa Thích Viên Đức – người có công hoằng truyền Phật pháp, kiến lập nhiều ngôi chùa khác trong tỉnh; Đại đức Thích Quảng Hương, vị trụ trì chùa đã tự thiêu chống áp bức bất công, kêu gọi hòa bình độc lập dân tộc dưới thời Ngô đình Diêm; văn bia thứ năm ghi lại đạo hạnh của Hòa thượng Thích Quang Huy, người đã gắn bó suốt 3o năm với Phật giáo Daklak, tạo nhiều công hạnh đối với đời và đạo – người đã nước tặng huân chương chống Mỹ cứu nước năm 1993.
            Tượng Phật Thích Ca cao 1m20, ngự tọa trên tòa sen cao khoản 40cm, bệ thờ bằng gỗ, khắc chạm hoa văn rất công phu.      Tượng do thợ của làng phường đúc Huế đúc vào năm Quý Tỵ,
Cùng thời ấy,  Đại hồng chung được đúc tại làng Hưng Đạo – Tp BMt, do các nghệ nhân đúc đồng khuôn hội Tịnh độ làng Dương Biều, cố đô Huế tôn tạo ngày 15 tháng 12 năm Quý Tỵ (01/1954).
Thân đại hồng chung cao 1m15, chu vi đáy 2m70, nặng 380kg, quai chuông là con rồng con rồng chầu liền thân, dõng mãnh, mình đầy vảy, thân uốn cong, chân trước và cổ uốn cong gắn liền vào đỉnh chuông, miệng ngậm châu.
            Chung quanh 4 mặt chuông từ quai xuống lần lượt được thể hiện:
Dòng chữ Hán đúc nổi:”Nam mô tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật”
Ngăn cách ô bên dưới là một dãy hoa sen đúc nối liền nhau.
Tiếp xuống có 4 ô chữ, mỗi o chứa 1 chữ “KHẢI – ĐOAN – TỰ – CHUNG”
Vòng hoa văn liên vạn được tiếp nối với bài kệ chuông:
 “Nguyện thử chung thanh siêu pháp giới
Thiết vi u ám tát giai văn
Văn trần thanh tịnh chứng viên
Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác”
 “Hồng chung sơ khấu – Bảo kệ cao Âm
Thượng thông thiên đường – hạ triệt địa phủ
Nam mô U Minh Giáo chủ cứu khổ bổn tôn
Cứu bát minh đồ Đại nguyện Địa tạng vương Bồ tát Ma ha tát.”
 “Nhĩ thời Quán Thế Âm Bồ tát tức tùng tọa khởi
Đảnh lễ Phật túc nhi bách Phật ngôn
Thế tôn ức niệm ngã tích vô số hằng sa kiếp ư thời hữu Phật
Xuất hiện ư thế danh Quán Thế Âm ngã niệm bỉ Phật
Phát Bồ đề tâm bỉ Phật giáo ngã tùng văn tư tu
Nhập tam ma địa sơ ư văn trung nhập lưu vong sở
Sở nhập ký tịch động tịnh nhị tương liễu nhiên bất sanh
Như thị tiệm tằng văn sở văn tận văn bất chủ
Giác sở giác không không giác cực viên không sở không diệt
Sanh diệt ký diệt tịch diệt hiện tiền”
        Các ô kế tiếp chia theo chiều đứng của thân chuông lần lượt thể hiện:
Phương danh người cúng:
        Đoan huy Hoàng thái tử Bảo Thăng, Bảo Long  kính tặng.
        Đoan Huy Hoàng Thái hậu Hoàng Thị Cúc – pháp danh Trừng Thành – tự Diệu Hòa,
        Đông cung Hoàng Thái tử Nguyễn Phúc Bảo – pháp danh tâm Aán
        Hoàng tử Nguyễn Phúc Bảo – pháp danh tâm Hải
        Đồng thanh tín đẳng phụng cúng
Trước sự chứng minh của: Hòa thượng Thích Tịnh Khiết
Tường Vân tự Đường đầu Hòa thượng Thích Tịnh Khiết chứng minh
Thừa thiện Giáo hội Tăng già đồng hộ niệm
         Phật lịch nhị thiên ngũ bách thập lục niên
        Tuế tại Quý Tỵ thập nhị nguyệt thập nhựt chung tạo
        Giá đồng trọng tam bách bát thập ki lô linh
        Dương Biều Tịnh độ khuôn chú tượng ban phụng chú
Thời gian đúc chuông: rằm tháng chạp năm Quý Tỵ (nhằm ngày 01/1954)
Tiếp theo là hai dãy hoa văn “lưỡng long chầu nguyệt”.
Kết thúc nơi phần loe rộng của chuông là dãy hoa văn sóng nước đều đặn.

        Mặc dầu chuông có thời gian xuất hiện không xa chúng ta lắm, nhưng giá trị từ thân của Đại hồng chung nầy cho chúng ta thấy: đây là tác phẩm nghệ thuật đồng có giá trị mỹ thuật, văn hóa độc đảo nhân dân ta dưới thời phong kiến. 

 

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới Thiệu:

    Chùa Sắc Tứ Khải Đoan là ngôi chùa đầu tiên của tổ chức Phật Giáo có mặt tại Đaklak, được xây dựng vào năm 1951. chùa tọa lạc trên khu đất rộng 7 mẫu 8 sào 28m2, do Đoan Huy Hòang Thái Hậu Hòang Thị Cúc hiến cúng cho Tổng Hội Phật Giáo trung phần.

Thông báo

Ảnh chùa

Số Lượng truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 19


Hôm nayHôm nay : 1994

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 68605

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3271665