Phật giáo Việt Nam đã góp phần làm sáng ngời lý tưởng của dân tộc

Thứ tư - 29/02/2012 22:20
Phật giáo Việt Nam đã góp phần làm sáng ngời lý tưởng của dân tộc

Phật giáo Việt Nam đã góp phần làm sáng ngời lý tưởng của dân tộc

Ba mươi năm trước đây, sau thành công mỹ mãn của Đại hội hiệp thương thống nhất các tổ chức hệ phái Phật giáo Việt Nam để thành lâp Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam ( từ ngày 4-11 đến 7-11-1981 ), Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, lúc đó là Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, trong buổi tiếp chư tôn đức Đại biểu Đại hội tại Phủ Chủ tịch ở thủ đô Hà Nội, đã thay mặt Đảng và Nhà nước trân trọng ghi nhận :
 

“… Trong quá khứ, Phật giáo Việt Nam đã gắn chặt với dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Lịch sử đã xác nhận Phật giáo Việt Nam là một tôn giáo, từ bản chất, bản sắc, từ trong thực tiễn hoạt động của mình, biểu hiện truyền thống yêu nước, gắn bó chặt chẽ với dân tộc, với Tổ quốc .

Trong sự nghiệp cách mạng cao cả của dân tộc ngày nay, Phật giáo đã góp phần xứng đáng. Đối với Việt Nam, nói đến tôn giáo là người ta nghĩ ngay đến đạo Phật, đến các việc làm quý báu, đẹp đẽ của Tăng Ni, Phật tử.

Đạo Phật ở Việt Nam đã mang màu sắc dân tộc Việt Nam rõ rệt. Có thể nói rằng Phật giáo Việt Nam đã góp phần làm sáng ngời lý tưởng của dân tộc và trưởng thành cùng dân tộc ”.

Sự ghi nhận, đánh giá đó vẫn còn là hoàn toàn chính đáng và giữ nguyên ý nghĩa đối với những thành tựu của các hoạt động Phật sự và bước phát triển vững chắc của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày nay. Trải qua ba mươi năm của sáu nhiệm kỳ hoạt động bền bỉ, theo tinh thần “ Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”, các cấp Giáo hội từ Trung ương đến các địa phương, đều đã hình thành ở hầu hết các tỉnh trong cả nước và ổn định tổ chức, tiếp tục phát triển trên mọi hoạt động Phật sự của mình. Đến nay sau đại hội thành lập Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Nghệ An vào cuối tháng 9/2011, đã thành lập được 58/63 đơn vị hành chính cấp tỉnh thành trong cả nước. Nhờ vậy mà không chỉ ở  các đô thị sầm uất, ở các tỉnh đồng bằng trù phú, mà còn đến cả các vùng sâu vùng xa, các vùng dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc, ở các tỉnh Tây Nguyên, Tây Nam bộ và đến cả các hải đảo xa xôi như Trường Sa, Bạch long Vĩ, Côn Đảo, Phú Quốc, Vân Đồn… đều đã có sự hiện diện các ngôi chùa, Học viện, Tịnh viện của các hệ phái  Phật giáo Việt Nam, mà như cách nói của một số nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử dân tộc, thì có thể coi đó là những ngọn Hải đăng – những cây đèn “Bát nhã”, những cột mốc biên cương bền vững nhất, bởi nó được xây cất, neo giữ bằng cả đạo lý, trí tuệ của Đạo pháp - Dân tộc Việt Nam và bằng Tâm nguyện của toàn dân ta. Tuy việc xây các công trình này còn ít và có phần muộn mằn, do tự phát của các Phật tử, của địa phương; Nhưng qua tiếng chuông, lời giảng Kinh vang lên từ các ngôi chùa ở những nơi ấy, nếu chánh niệm và được duy trì đều đặn, chắc hẳn sẽ góp phần làm cho đồng bào ta bám trụ ở những nơi đó thêm an tâm, ấm lòng và hy vọng sẽ góp phần làm thức tỉnh các tham vọng bá quyền của những kẻ còn nặng đầu óc tham-sân-si ở gần xa quanh ta. Cùng với các hoạt động khác như các cuộc đi cứu tế nạn nhân lũ lụt, thiên tai ở trong và ngoài nước, chữa bệnh từ thiện... của đông đảoTăng Ni, Phật tử trong cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài. Thông qua các hoạt động thiết thực đó, Giáo hội Phật giáo Việt nam tiếp tục phát huy truyền thống của Dân tộc và Đạo Pháp trên con đường “Hộ quốc An dân”, đồng hành cùng toàn dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, đoàn kết phấn đấu nhằm xây dựng một xã hội tốt đẹp, sớm đạt mục tiêu “Dân giàu, Nước mạnh, Dân chủ, Công bằng, Văn minh” như  ý Đảng lòng Dân ta hằng mong muốn.

Sự phát triển của Giáo hội trong 30 năm qua, trước hết phải nói đến kết quả của hoạt động Tăng sự, đã tổ chức hàng chục Đại giới đàn truyền trao giới pháp cho hàng chục ngàn Tăng Ni, duy trì và nâng cao chất lượng, thanh quy các khóa an cư kiết hạ, nhắc nhở Tăng Ni thường xuyên trau dồi đạo hạnh, tăng trưởng đạo lực, kế thừa đạo nghiệp hoằng dương chánh pháp. Nhiều Lễ cầu siêu vong linh các liệt sỹ trong các cuộc chống quân Xâm lược và các vong linh đồng bào, nhân loại bị thiệt mạng trong hoạn nạn, chiến tranh đã được tổ chức trang nghiêm, cảm động. Được sự quan tâm, tạo nhiều điều kiện thuận lợi về các thủ tục xây dựng của chính quyền các cấp, công tác trùng tu, tôn tạo, xây dựng mới nhiều cơ sở thờ tự của các chùa làng, tu viện, thiền viện khắp các tỉnh thành trong cả nước được phát triển thuận lợi, khang trang hơn.

Chúng ta rất trân trọng tư liệu “Khoảnh khắc lịch sử” mà tuần báo Giác Ngộ số 605-3/9/2011  đã cung cấp cho bạn đọc: Ba nguyện vọng bức thiết của Phật giáo được Cố Đại lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận, Đệ nhất Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đạo đạt lên Chủ tịch HĐBT Phạm Văn Đồng sau thành công của Hội nghị đại biểu thống nhất Phật giáo Việt nam, đã được Chủ Tịch  hoan hỉ chấp thuận, ủng hộ nhiệt thành là : “ Mở trường Phật học ở cả ba miền – Đào tạo Tăng Ni thừa kế, Tăng sỹ được tự do hành đạo trên cả nước” đã mở đường cho bước phát triển, với các hoạt động phong phú của Giáo hội hiện nay.

Từ đó, Công tác giáo dục Tăng Ni sinh được Giáo hội quan tâm chỉ đạo, đến nay đã có  4 Học viện Phật giáo ở các thành phố: Hà Nội, Huế, Hồ Chí Minh và Cần Thơ (dành cho Phật giáo Nam Tông Khmer) là những trung tâm đào tạo Phật giáo lớn của nước ta, cùng với 8 lớp Cao đẳng, 31 trường trung cấp... ở các tỉnh, nhiều Tăng Ni sinh được đi du học cao học, Tiến sỹ ở nước ngoài; Hy vọng sẽ là nguồn sinh lực mới có đủ phẩm hạnh tương xứng với tri thức thuyết lý học được ở các Học viện, nhà trường, để khi ra trường có đủ Đạo lực phục vụ tốt các Phật sự được Giáo hội giao phó; Cần định hướng, tạo điều kiện, khuyền khích Tăng Ni sinh ra trường tình nguyện về làm Phật sự ở các nơi còn khó khăn, nghèo nàn, vùng sâu vùng xa và các vùng dân tộc thiểu số. Với các Phật tử, các Đạo tràng tu tập cũng được mở rộng, phát triển, có nội dung chất lượng thiết thực; Các chương trình hoằng pháp cũng được duy trì đều đặn ở các thiền viện, quận huyện, nên đã thu hút ngày một đông số Cư sĩ, Phật tử là cán bộ, công chức, trí thức hưu trí, các phật tử trẻ là sinh viên, học sinh. Thiết nghĩ, các vị trụ trì và lãnh đạo Giáo hội cần có một hình thức tổ chức thích hợp, phân công các vị Đại đức giáo thọ có phẩm hạnh và trình độ giáo lý để hướng dẫn, quy tụ số thiện hữu trí thức này trong việc nghiên cứu, tu tập và làm các Phật sự, hộ pháp thiết thực hơn.

Hoạt động của Viện Nghiên cứu Phật học Việt nam ngày càng được Trung ương Giáo hội quan tâm chỉ đạo. Liên tiếp trong hai nhiệm kỳ gần đây, hàng năm Lãnh đạo Viện và các Ban chuyên môn đã chủ động xây dựng và thực hiện tốt nhất các chuyên đề nghiên cứu, các cuộc Hội thảo khoa học quốc tế do Viện chủ trì. Đặc biệt là Viện NCPH mà nòng cốt là lực lượng đông đảo các nhà nghiên cứu của Ban Phật giáo Việt Nam đã tích cực tham gia các cuộc Hội thảo khoa học cấp Quốc gia, quốc tế trong các dịp Kỷ niệm lớn như Kỷ niệm 700 năm ngày viên tịch của Đức Vua-Phật Hoàng Trần Nhân Tông, “Đại lễ Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội”, Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc 2008, Các cuộc Hội thảo khoa học tôn vinh chư quý vị Đại lão Hòa thượng tiền bối… tổ chức ở Thủ dô Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Nam Định, Hải Phòng, Bình Dương, Kiên Giang và nhiều nơi khác.

Về quan hệ quốc tế, trong 30 năm qua, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thực sự là Đại diện chính đáng duy nhất, là Người phát ngôn chính thức của Phật giáo Việt Nam đối với các tổ chức Phật giáo nước ngoài, các Tổ chức phật giáo Quốc tế và khu vực. Đã tham dự, giao lưu hữu nghị nhiều diễn đàn Phật giáo, Tôn giáo thế giới và khu vực. Đăc biệt đã đăng cai và được Phật giáo quốc tế tín nhiệm suy cử làm Trưởng ban tổ chức nhiều sự kiện Phât giáo lớn như Đại lễ Phật đản LHQ 2008, các cuộc Hội thảo quốc tế… và đều tổ chức thành công mỹ mãn, được Đạo hữu quốc tế khâm phục, ca ngợi.

Nước Việt Nam chúng ta vốn có lịch sử bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, có truyền thống yêu nước, bất khuất kiên cường; Cũng là quốc gia đa sắc tộc và đa tôn giáo. Trong đó Phật giáo là tôn giáo lớn, có mặt sớm nhất trên lãnh thổ Việt Nam. Từ Ấn Độ, tiếp đến là Trung Hoa, Phật giáo được du nhập Việt Nam vào khoảng những năm đầu của công nguyên, trong buổi hồng hoang của đất nước, được cư dân bản địa tiếp nhận với tinh thần khá đồng thuận. Có được thiện duyên đó là do từ hai phía. Từ trong bản chất, Phật giáo vốn là một tôn giáo có tư tưởng khoan dung, hòa đồng, sẵn sàng chấp nhận, dung nạp tín ngưỡng văn hóa dân gian của cư dân vùng lúa nước; đồng thời tiếp thu, kế thừa được những tinh hoa giá trị của kho tàng văn hóa Khổng giáo và Đạo giáo đã được du nhập, lưu hành trước đó ít lâu. Là một tôn giáo có hệ thống giáo lý khá phong phú và hoàn chỉnh nên khi du nhập, đã cung cấp cho cộng đồng người Việt một hệ thống các quan niêm mới mẻ về vũ trụ và nhân sinh. Một số tư tưởng của Phật giáo phù hợp với tư duy truyền thống văn hóa dân tộc với tín ngưỡng dân gian bản địa. Chính vì vậy, Phật giáo được dân chúng thời đó tiếp nhận một cách tự giác và nhanh chóng trở thành một tôn giáo thu hút được sự tin theo từ quảng đại dân chúng đến tầng lớp vua quan, trí thức đương thời, để rồi trở thành hệ tư tưởng chính thống của một số triều đại phong kiến sau đó. Trải qua hàng ngàn năm tồn tại, Phật giáo Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc trong suốt chiều dài lịch suử đấu tranh bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Phật giáo đã đóng góp cho đất nước, cho dân tộc về nhiều phương dịên như tham gia vào sự hình thành văn hóa, đạo đức, lối sống truyền thống của con người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam;  góp phần quan trọng trong việc làm lành mạnh hóa các mối quan hệ xã hội và tạo nên sự hài hòa, phong phú, đa dạng của bản sắc văn hóa Việt Nam, từ đó làm nền tảng để từng bước hình thành nền Văn Hiến Việt Nam. Trải qua bao bước thăng trầm, suy thịnh của nhiều triều đại, chính thể, nền văn hiến đó vẫn được nhân dân ta bảo tồn, phát huy và duy trì cho đến thế hệ chúng ta ngày nay.

Lịch sử, truyền thống, thành tích và bản chất của Phật giáo Việt Nam là điều đã được khẳng định, được nhà nước và nhân dân ta ghi nhận. Không ít các nhà khoa học phương Tây ca ngợi Phật giáo là tôn giáo có trí tuệ nhân văn siêu việt. A. Anhxtanh cho rằng : “Phật giáo không chỉ có đóng góp cho khoa học, mà còn là Di Sản Văn Hóa Thế Giới. Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng được nhu cầu của khoa học hiện đại, thì tôn giáo đó chính là Phật giáo”.

Ngày nay, nhân loại đang chứng kiến, được thụ hưởng không ít thành tựu của sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ; của cơ chế thị trường cùng xu thế hội nhập toàn cầu. Song mặt trái của nó cũng mang lại cho nhân loại những hậu quả khủng khiếp và tác hại lâu dài. Nếu không chủ động và hợp tác cùng nhau điều chỉnh lại mọi hành vi ứng xử, thụ hưởng của mình, loài người chắc chắn sẽ phải trả giá ngày càng cao hơn cho những hành vi vô cảm của mình trước thiên nhiên và đồng loại. Trong tình trạng chung đó, Việt Nam nói chung và Phật Giáo Việt Nam, nếu không tỉnh thức, tự đánh giá đúng thực chất của mình, để điều chỉnh, đổi mới mọi mặt hoạt động của mình thì cũng không tránh khỏi sự suy thoái, lạc hậu.

Không thể phủ nhận một thực tế đáng buồn là bên cạnh nhiều bậc Cao Tăng Thạc Đức, Tăng Ni tu hành chính đáng, các chùa, viện trang nghiêm, thanh tịnh được Phật tử và xã hội tôn kính cũng đã có không ít người phẩm chất đạo hạnh yếu kém, y phục bất xứng kỳ đức, không khiêm tốn đúng mực… am thất tràn lan, gây sự phản cảm đáng tiếc trong xã hội. Vì vậy đề nghị các cấp Giáo hội và trước nhất là các bậc  Cao Tăng, Viện chủ các Tông môn,  tổ đình quan tâm hơn nữa trong việc bổ nhiêm trụ trì, thu nhận người xuất gia, cử Tăng Ni sinh đi học các trường lớp, sử dụng thích đáng khi ra trường để họ có đủ Đạo hạnh làm Phật sự, để đáp ứng lòng ngưỡng mộ của xã hội và đông đảo Phật tử thuần thành , để  “Chùa thật sự là chùa, Sư thật sự là sư”. Việc xây cất, trùng tu tôn tạo các chùa, Viện, tổ chức các lễ hội, khởi công, khánh thành... rất cần trang nghiêm hoan hỷ. Song cũng không nên quá phô trương, hình thức … tốn kém quá nhiều công sức của bá tánh và xã hội trong tình hình khó khăn, suy thoái kinh tế hiện nay . Về Tổ chức của Giáo hội, không dám lạm bàn, chỉ xin kiến nghị: Đã có tổ chức của Ni chúng, thiết nghĩ cũng nên có hình thức tổ chức thích đáng cho các Cư sĩ, các nhà Thiện hữu trí thức và Thanh niên Phật Tử để góp phần Hộ pháp cho hiện tại và tương lai của Phật giáo Việt Nam.

Điểm lại đôi nét tóm tắt như vậy để chúng ta có thể nhận thúc đầy đủ, đúng mức hơn về Lịch sử, truyền thống, bản sắc của Phật giáo Việt Nam qua hai mươi thế kỷ tồn tại, phát triển, cùng những thành tựu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong suốt 30 năm qua. Để tiếp tục thực hiện tốt đường hướng Đạo Pháp – Dân tộc; luôn luôn gắn bó chặt chẽ với Tổ quốc, với Dân tộc, đồng hành và trưởng thành cùng Dân tộc; Tích cực hội nhâp và có vị trí xứng đáng trong cộng đồng Phật giáo thế giới.

 

 

 

NNC Tuệ Khương

Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: việt nam
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới Thiệu:

    Chùa Sắc Tứ Khải Đoan là ngôi chùa đầu tiên của tổ chức Phật Giáo có mặt tại Đaklak, được xây dựng vào năm 1951. chùa tọa lạc trên khu đất rộng 7 mẫu 8 sào 28m2, do Đoan Huy Hòang Thái Hậu Hòang Thị Cúc hiến cúng cho Tổng Hội Phật Giáo trung phần.

Thông báo

Ảnh chùa

Số Lượng truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 18

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 17


Hôm nayHôm nay : 4384

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 82702

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3285762