Sự bình đẳng trong vấn đề giải thoát
Ở Đài Loan, nam giới và phụ nữ đều có quyền bình đẳng trong giáo dục; điều này đã giải phóng phụ nữ khỏi bị trói buộc vào vai trò nội trợ. Quyền bình đẳng trong giáo dục đã đặt nền tảng tốt đẹp cho phụ nữ Đài Loan được sống độc lập và theo đuổi mục tiêu của đời mình dựa trên những sở thích của cá nhân. Điều này chắc chắn đã nâng cao địa vị của nữ giới trong mọi lĩnh vực. Tuy nhiên, điều đóng góp nhiều nhất vào việc đẩy mạnh quyền lãnh đạo và uy thế của Ni chúng Đài Loan là môi trường hết sức thuận lợi của cộng đồng Phật giáo Đài Loan.
Trước hết, ở Đài Loan, những bộ kinh phổ biến nhất là kinh Đại Thừa, kinh Duy Ma Cật và kinh Pháp Hoa, là những bộ kinh nhấn mạnh vào sự bình quyền nam nữ. Một bộ kinh phổ biến khác ở Đài Loan là kinh Địa Tạng, đề cao những đức tính tốt của người phụ nữ. Một câu chuyện cảm động trong bộ kinh này kể lại rằng trong một kiếp quá khứ Địa Tạng Bồ Tát từng là một phụ nữ bà la môn. Mẹ cô ta bị đoạ vào địa ngục sau khi chết. Cô cầu nguyện với Đức Phật cứu mẹ cô và đã phát nguyện tinh tấn không ngừng nghỉ để cứu độ tất cả chúng sanh, mong đem lại sự an lạc tuyệt đối cho mẹ. Ngoài những câu chuyện trong kinh Địa Tạng, vị Bồ Tát từ bi nhất và nhiệm mầu nhất trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc là Bồ Tát Quán Thế Âm, cũng được thể hiện trong hình dáng của một phụ nữ. Những sự kiện này đã tạo nên một ảnh hưởng tốt đẹp trong tâm thế của người Phật tử Trung Quốc về nữ giới.
Một yếu tố quan trọng khác trong việc nâng cao vai trò lãnh đạo của ni chúng Đài Loan là việc có dòng truyền thừa trong giới phẩm tỳ kheo ni. Khi một người được thọ giới tỳ kheo ni, thì địa vị của người đó nghiễm nhiên được công nhận. Nhờ vậy mà vị tỳ kheo ni đó có thêm tự tin trong việc tu tập cá nhân cũng như trong việc giảng dạy, giúp cho họ phát huy vai trò của mình như một người lãnh đạo hay người khởi xướng công việc.
Sau cùng nhưng không kém phần quan trọng, sự ủng hộ của các bậc danh tăng cũng đã có ảnh hưởng tốt đẹp đến việc nâng cao vai trò lãnh đạo của ni chúng ở Đài Loan. Nếu không có sự nâng đỡ của các vị danh tăng trong địa phương thì dù có những yếu tố thuận lợi kể trên, cũng không dễ dàng cho ni chúng có được sự tín nhiệm và ủng hộ của xã hội Đài Loan. May thay, các bậc tôn túc ở Đài Loan đều vô cùng phóng khoáng, cởi mở. Quý ngài đề cao mạnh mẻ tư tưởng nam nữ bình quyền, và điều này đã đóng vai trò chính yếu trong việc phát triển khả năng lãnh đạo của ni chúng Đài Loan.
![]()
Sự lạm dụng Tứ Trọng Pháp
Trong các bậc tôn túc, Hoà Thượng Ấn Thuận, một trong những học giả và cũng là Thiền sư nổi tiếng nhất trọng lịch sử Phật giáo của Trung Quốc, đã hết mình ủng hộ ni chúng. Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng Bát Kỉnh Pháp, Hoà thượng Ấn Thuận kết luận rằng những điều luật này thật sự xuất phát từ Tứ Trọng Pháp, do các vị đệ tử Phật đề ra không lâu sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Những trọng pháp đó là:
- Ni phải thọ giới từ hai bộ chúng Tăng và Ni
- Ni phải thỉnh chư Tăng giáo giới mỗi nữa tháng
- Ni không được nhập hạ ở những nơi khô có Tăng
- Sau mùa an cư Ni phải thực hành tự tứ trước hai bộ chúng Tăng và Ni
Lý do Phật chế bốn điều luật này là sự phân biệt đối xữ vô cùng khắc nghiệt đối với nữ giới trong xã hội Ấn Độ thời bấy giờ. Phụ nữ có địa vị rất thấp kém trong xã hội và không được học hành. Trong bối cảnh như vậy, phụ nữ thường thất học, kém hiểu biết, không có khả năng tổ chức, và thường có khuynh hướng sống theo cảm xúc. Nếu không có sự giúp đỡ của chứ tăng, sẽ rất khó khăn cho họ trong việc xây dựng một ni đoàn thanh tịnh sống đúng theo chánh pháp. Chính vì vậy, đức Phật phải cần chư tỳ kheo tăng giúp đỡ cho tỳ kheo ni; để đáp lại, các tỳ kheo ni nhận được sự giúp đỡ của chư tăng, họ cần phải tỏ sự tôn trọng đúng mức đối với chư tỳ kheo.
Thời bấy giờ, chư tăng thường phải chỉ dạy cho chư ni cách sống hào hợp và an bình trong ni chúng. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là bản chất của chư ni thấp kém hơn chư tăng. Trong thời đức Phật, những thành tựu của các vị Thánh ni xuất chúng đã được ghi lại trong nhiều bài kinh, mặc dù công bằng mà nói thì những thành tựu này có được cũng một phần nhờ vào sự nâng đỡ và khuyến khích của Đức Phật và chư Tăng. Vậy mà, bất chấp những thành tựu này, cũng như sự xác nhận, tán thành của chính Đức Phật, ngay trong mùa hạ đầu tiên sau khi đức Phật nhập Niết bàn, trong kỳ kiết tập Tam Tạng đầu tiên, Tôn giả Ma Ha Ca Diếp đã buộc Tôn giả Ananda phải nhận lỗi trước sự hiện diện của 500 vị tỳ kheo, là đã năn nỉ Đức Phật cho phép Di mẫu Mahaprajapati và những phụ nữ khác xuất gia. Như vậy, dường như ngay sau khi khi Đức Phật nhập diệt, chư tăng đã bắt đầu hành động đi ngược lại sự tiến bộ cho phụ nữ đã được hình thành dưới sự lãnh đạo của Đức Phật, bằng cách làm như chỉ có Ngài Ananda mới là người chủ xướng cho việc thu nhận phụ nữ vào trong tăng đoàn.
Theo Hoà Thượng Ấn Thuận, Đức Phật do dự không chấp nhận lời thỉnh cầu của Mahaprajapati ngay lập tức là vì một vấn đề có tính chất trọng đại như vậy đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng. Hoà Thượng cũng nhận định rằng, mặc dù ngài Ananda đã giúp Mahaprajapati thỉnh cầu Đức Phật, nhưng chính Đức Phật, bậc trí tuệ sáng suốt nhất trên đời, mới là người quyết định thâu nhận phụ nữ vào tăng đoàn. Ngài làm vậy vì Ngài biết rõ phụ nữ cũng có khả năng gáic ngộ giải thoát, và vì vậy họ cũng có đủ tư cách như nam giới để trở thành thành viên của tăng đoàn Phật giáo.
Khi Đức Phật không còn đễ nâng đỡ cho nữ giới, những vị tỳ kheo bảo thủ đã nhanh chóng sử dụng quyền lực buộc tội ngài Ananda, và phản kháng việc chấp nhận phụ nữ vào tăng đoàn. Đây là dấu hiệu rõ ràng của sự chống đối việc thu nhận nữ giới vẫn đang tiếp diễn và lảng vảng trong tâm trí của những vị tỳ kheo bảo thủ thời bấy giờ, những người không muốn thay đổi lối suy nghĩ bị khuôn đúc bởi sự kỳ thị giới tính cực kỳ mạnh mẽ trong xã hội Ấn Độ thời bấy giờ. Buộc ngài Ananda nhận tội đã giúp đỡ Mahaprajapati mới chỉ là bước đầu tiên. Bước thứ hai của các vị tỳ kheo bảo thủ là biến Tứ Trọng Pháp thành Bát Kỉnh Pháp khắc khe để cho Tỳ kheo có được quyền hạn tuyệt đối với Tỳ kheo ni. Tỳ kheo ni bị phân biệt đối xử và tiếng nói của họ bị chèn ép. Không được nâng đỡ, thì dù các bậc ni xuất chúng cũng khó lòng tồn tại, n1oi gì đến việc có vai trò quan trọng trong tăng đoàn. Và đây chính là điều mà các vị Tỳ kheo bảo thủ mong muốn. Các tông phái của Đại Thừa như Đại Chúng Bộ hay Chánh Lượng Bộ đều không chấp nhận Bát Kỉnh Pháp, mà thay vào đó, họ vẫn duy trì Tứ Trọng Pháp, và những bộ kinh đề cập đến những đức tính của nữ giới được phổ biến và chấp nhận rộng rãi. Trong những tông phái này, người ta có lối suy nghĩ phóng kháong hơn về bình đẳng giới tính, và chư tăng cũng bày tỏ sự tôn trọng hơn với chư ni.
Bốn điều luật mới được thêm vào chỉ thấy ở các tông phái bảo thủ nhất của Thượng Toạ Bộ, đó là:
- Một vị Tỳ kheo ni dù 100 tuổi hạ vẫn phải cung kính đãnh lễ một vị Tỳ kheo vừa mới thọ giới.
- Một vị Tỳ kheo ni không được phỉ báng một vị Tỳ kheo
- Một vị Tỳ kheo ni không được chỉ trích lỗi lầm của một vị Tỳ kheo
- Nữa tháng một lần, các Tỳ kheo ni phải sám hối trước hai bộ Tỳ kheo tăng và ni.
Cơ hội bình đẳng tại Pháp Cổ
Năm 2000, tại hội nghị Thượng đỉnh hoà bình thế giới tổ chức tại Hội trường Liên Hiệp Quốc, với sự tham dự của các lãnh đạo tinh thần và tôn giáo trên khắp thế giới, Hoà Thượng Thánh Nghiêm, người sáng lập Pháp Cổ Sơn, trong bài nói chuyện với các vị lãnh đạo tôn giáo, đã phát biểu rằng, nếu có những điều nào trong kinh điển đi ngược lại với hoà bình và hoà hợp giữa người với người, chúng ta cần cố gắng xem lại và tìm hiểu những điều này để đi đến thống nhất một cách tiếp cận và giải thích hợp lý nhằm đảm bảo cho hoà bình và hoà hợp trên thế giới.
Là nữ đệ tử xuất gia thế hệ đầu tiên của Hoà Thượng Thánh Nghiêm, tôi đã hưởng được những lợic ích to lớn từ quan điểm phóng khoáng và bình đẳng của Ngài đối với các nam nữ đệ tử. Tôi cũng đã chứng kiến phương cách Ngài dạy dỗ các đệ tử trong tinh tầhn bình đẳng. Ngay từ giai đoạn đầu, trong những ngày thành lập tăng đoàn ở Phật Cổ, tất cả công việc chấp tác hằng ngày đều được phân công một cách bình đẳng cho tất cả các đệ tử của Ngài, không phân biệt nam nữ. Ngoài trách nhiệm công việc, tất cả tăng ni đều có cơ hội như nhau trong pháp học và pháp hành. Ngay cả công việc quản lý tu viện cũng được phân chia bình đẳng.
Quan niệm bình đẳng của Hoà Thượng còn được thể hiện rõ trong những điều khoảng liên quan đến việc bầu cử trụ trì chủ tịch tương lai của Phật Cổ Sơn. Đặc biệt, vị chủ tịch hội sẽ được quyết định thông qua một tiến trình bầu cử được thực hiện trong số các vị tăng ni có đủ phẩm chất, dù ở trong hay ngoài tăng đoàn Phật Cổ Sơn. Ngài không nói rằng vị trụ trì chủ tịch phải được bầu từ các vị Tỳ kheo hay nam cư sĩ.
Một tổ chức Phật giáo có ảnh hưởng khác ở Đài Loan là Phật Quang Sơn đã đào tạo được rất nhiều vị tỳ kheo ni xuất chúng hiện đang giảng dạy, làm việc và phục vụ trong nhiều lãnh vực và địa phương khác nhau. Hoà thượng Tinh Vân, người sáng lập hội, cũng đề cao việc bình đẳng giới trong các đệ tử tăng ni của ngài, và điều này đã góp phần vào việc xuất hiện nhiều tỳ kheo ni kiệt xuất trong tổ chức này. Ngoài ra còn nhiều vị Hoà Thượng khác cũng có tinh thần nâng đỡ ni chúng ở Đài Loan. Sự ủng hộ và hướng dẫn của quý ngài đã nuôi dưỡng sự phát triển khả năng lãnh đạo của Ni chúng ở Đài Loan.

Cải chính hiểu biết sai lầm và loại bỏ chướng ngại
Thế giới đang ngày càng toàn cầu hoá và Phật giáo cũng đang được phát triển một cách mạnh mẽ. Ở các nước phương tây, nơi đang đóng vai trò trung tâm trong việc hoằng truyền chánh pháp thời hiện đại, Phật giáo đã bị hiểu một cách lệch lạc và bị coi là lạc hậu trong lãnh vực bình đẳng giới tính. Chúng ta, những đệ tử của Đức Phật cần gánh vác trách nhiệm cải chính những sự hiểu biết sai lầm này và loại bỏ những chướng ngại như vậy trong sự nghiệp hoằng pháp trên thế giới.
Mong sao các tông phái Phật giáo đều được phục hồi truyền thống Tỳ kheo ni.
Mong sao chư Tỳ kheo và Tỳ kheo ni được tu tập trong một không khí tương thân, tương trợ và tôn trọng lẫn nhau.
Mong sao chư Tỳ kheo tăng và Tỳ kheo ni cùng nỗ lực để đưa chánh pháp đến mọi hang cùng ngõ hẻm trên thế giới.
Người dịch: SC Liễu Pháp

Xem phản hồi
Gửi phản hồi