Cương Yếu Giới Luật (P4)

Thứ năm - 08/09/2011 17:45
Cương Yếu Giới Luật (P4)

Cương Yếu Giới Luật (P4)

Chúng ta thông thường đều được nghe xưng hiệu của Bồ tát, cho đến cũng có thể đem hai chữ Bồ tát làm lời khen tặng người khác. Vì thế, một từ Bồ tát có ấn tượng đối với một số người đã là cao quý, vĩ đại, mà cũng là bình dị gần gũi; đã là thiêng liêng không lường, cũng là giản đơn phổ thông. Kỳ thực, người chân chính hiểu được thứ lớp và cảnh giới của Bồ tát không có bao người. Còn người chưa từng nghe qua Phật pháp nhận tất cả những tượng thần, tượng quỷ đắp bằng đất, khắc bằng gỗ, đều gọi là Bồ tát, đấy là quan niệm của người chưa biết được ý nghĩa của Bồ tát.

 

THIÊN THỨ BẢY.Bồ Tát Giới Cương Yếu

 

Chương 1. Thứ Lớp Và Cảnh Giới Của Bồ Tát

 

I. BỒ TÁT LÀ GÌ?

Chúng ta thông thường đều được nghe xưng hiệu của Bồ tát, cho đến cũng có thể đem hai chữ Bồ tát làm lời khen tặng người khác. Vì thế, một từ Bồ tát có ấn tượng đối với một số người đã là cao quý, vĩ đại, mà cũng là bình dị gần gũi; đã là thiêng liêng không lường, cũng là giản đơn phổ thông. Kỳ thực, người chân chính hiểu được thứ lớp và cảnh giới của Bồ tát không có bao người. Còn người chưa từng nghe qua Phật pháp nhận tất cả những tượng thần, tượng quỷ đắp bằng đất, khắc bằng gỗ, đều gọi là Bồ tát, đấy là quan niệm của người chưa biết được ý nghĩa của Bồ tát.

Bồ tát nguyên là dịch âm của Phạn văn của Ấn Độ: Bohisattva, dịch đủ là “Bồ đề tát đỏa” dịch ý là “Giác hữu tình”. Giác nghĩa là giác ngộ, giác liễu, giác trị, giác kiến. Hữu tình nghĩa là chúng sinh, chúng sinh là chúng duyên hòa hợp mà sinh, cũng có nghĩa là nhiều sinh mạng. Nhưng trong nhiều sinh mạng của chúng duyên hòa hợp, có động vật có tình ái và tình tánh, có thực vật cho đến khoáng vật v.v… không có tình ái và tình tánh.

Ở đây nói chúng sinh là chỉ cho sinh mạng có tình ái và tình tánh, vì thế gọi là hữu tình. Ba chữ “Giác hữu tình” gồm có bốn tầng của hai lớp ý nghĩa. Một lớp là hữu tình chúng sinh phát tâm, trên cầu vô thượng giác (Phật) đạo và cũng phát tâm khai hoá tất cả hữu tình chúng sinh đều đắc Vô thượng giác (Phật) đồng thời cũng muốn làm cho tất cả hữu tình chúng sinh đều ngộ kiến giác (Phật) tánh sẵn đủ của mỗi người. Hợp lại mà nói, trên cầu Phật đạo để tự giác, dưới hoá độ chúng sinh để giác tha, đây là ý nghĩa của Bồ tát.

Mục đích tin Phật, học Phật của chúng ta là mong muốn chúng ta thành Phật, nhưng cảnh giới Phật là chí cao vô thượng, rất tốt đẹp, rất lớn lao, rất sáng suốt, rất chân thật; hành trình của con đường thành Phật cũng rất gian nan và xa xăm. Một người từ khi bắt đầu tin Phật học Phật, phải trải quá trình thời gian ba-a tăng-kỳ kiếp và trăm kiếp, mới đạt đến mục đích thành Phật. Ở thế gian không có chân bảo giá rẻ; càng khó được, giá trị càng cao; thành Phật cũng vậy, Phật tuy khó thành nhưng rốt cuộc cũng thành, nhưng phải trả giá một sự nỗ lực lớn lao. Giá trị này là Bồ tát hạnh hoặc Bồ tát đạo: Trên cầu Phật đạo, dưới hoá độ chúng sinh. Không ngừng tẩy rửa phiền não vô minh từ vô thỉ đến nay làm nhơ Tự tánh giác (Phật) thể. Chính mình tẩy rửa phiền não vô minh, tăng trưởng trí tuệ, dùng trí tuệ này để tự chiếu soi mình và cũng để chiếu soi người khác; giúp cho người khác tẩy rửa phiền não vô minh, cũng có thể tăng trưởng phước đức của mình; dùng để lợi mình, cũng dùng để lợi người. Đây là đạo Bồ tát song tu song hành trí huệ và phước đức, cũng là theo từng giai đoạn tiến lên con đường thành Phật.

Do thực hiện con đường thành Phật mà được gọi là Bồ tát. Thành Phật đắc quả là do thực hành hạnh Bồ tát. Bồ tát đạo là chánh nhân của thành Phật, thành Phật là kết quả của Bồ tát đạo. Muốn thành Phật trước tiên phải hành Bồ tát đạo, hành Bồ tát đạo chắc chắn sẽ thành Phật.

II. CẤP BẬC CỦA BỒ TÁT

Chính vì cái nhân thành Phật là Bồ tát đạo rất dài, rất xa, vì thế trong kinh Phật phân nó ra thành giai đoạn và thứ bậc. Cách phân biệt về cấp bậc của Bồ tát, theo Tông Thiên Thai gồm có bốn loại: Tạng, Thông, Biệt, Viên. Bồ tát của Tạng giáo thuộc loại căn khí nhỏ, không có phân cấp bậc. Nếu muốn luận về cấp bậc, chỉ có thể đem trình độ tu chứng của Bồ tát loại này so sánh với cấp bậc của Tiểu thừa mà thôi. A tăng kỳ kiếp thứ nhất là ở giai đoạn Ngũ đình tâm, biệt tướng niệm, tổng tướng niệm của Tiểu thừa Phàm phu vị. A tăng kỳ kiếp thứ hai tương đương với Noãn vị của Tiểu thừa Hiền vị. Mãn a tăng kỳ kiếp thứ ba tương đương với Đảnh vị của Tiểu thừa. Qua ba đại A tăng kỳ kiếp mới là giai đoạn tu nhân 32 tướng đại nhân, tiến lên từ Nhẫn vị vào Thế đệ nhất vị là thành Phật. Đây là nhân gian Phật thân sắc vàng một trượng sáu của phàm phu và Tiểu thừa. Trong quá trình tu hành, các Ngài không đoạn phiền não mà tu lục độ, còn bậc thánh Tiểu thừa đoạn phiền não mà không tu lục độ. Vì thế, các Ngài là Đại thừa Bồ tát chứ không phải là phàm phu và bậc thánh Tiểu thừa.

Bồ tát Thông giáo là loại căn khí chứng cả Tam thừa, lấy giai đoạn Thập địa khái quát thứ lớp của Tam thừa. Sơ địa là phàm phu của Sơ tín; Nhị địa là bậc Hiền; Tứ địa bằng với thánh nhân Sơ quả của Tiểu thừa; Ngũ địa bằng với Nhị quả Tiểu thừa; Lục địa bằng với Tam quả Tiểu thừa; Thất địa đồng với Tứ quả A la hán của Tiểu thừa; Bát địa đồng với Bích chi ca Phật vị của Tiểu thừa; Cửu địa từ “Không ra Giả”, đắc pháp nhãn và tập khí sắp hết, vì thế gọi là Bồ tát địa; địa thứ mười là Phật địa. Thất địa trở về trước thông cả Tam thừa. Bát địa thông với Bích chi ca Phật. Tam thừa này tuy mỗi thừa đều riêng bất đồng, song lại có nhiều đặc tính chung, đồng quán Vô sinh, đồng chứng Vô học, đồng thoát khỏi Phần đoạn (tam giới) sinh tử, đồng nhập vào Hoá thành Niết bàn (không sinh tử), vì thế gọi là thông giáo.

Bồ tát của Biệt giáo là một loại chuyên nhiếp căn khí giới ngoại (ngoài tam giới), vì căn khí bất nhất cho nên gọi là Biệt giáo. Tất cả phân 52 cấp bậc, đây là cách phân cấp thông thường quen nói, cũng là một cách phân cấp mà chúng tôi cần phải giới thiệu kỹ càng.

Bồ tát của Viên giáo cùng Biệt giáo bất đồng, Biệt giáo là lần lượt tiệm tu, Viên giáo là nhất tâm trọn đủ, chỗ gọi là dùng viên văn, viên tu mà tu viên hạnh. Cấp bậc của Biệt giáo là riêng biệt và phải theo cấp tu chứng. Viên giáo tuy cũng có cấp bậc sai biệt của phàm phu, Hiền thánh, nhưng cấp nào cũng tương dung, bậc nào cũng tương nhiếp. Phàm phu vị (Ngoại phàm ngũ phẩm) của Viên giáo cũng được gọi là Phật, đó là Quán hạnh tức Phật.

Bậc Hiền vị (Nội phàm Thập tín) được gọi là Tương tự tức Phật, bậc Thánh (Thập trụ) vị được gọi là Danh tự tức Phật, còn phải trải qua Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác, rồi đến Diệu giác vị mới gọi là Cứu cánh tức Phật. Sơ tín của Viên giáo cũng được gọi là thành Phật, nhưng đó chỉ là biết bổn tánh của chính mình là Phật, chứ không phải là Phật của cứu cánh viên mãn.

III. NĂM MƯƠI HAI CẤP BẬC BỒ TÁT

Trong các kinh Đại thừa Bồ tát Giới có đề cập đến cấp bậc của Bồ tát, chỉ có Kinh Phạm Võng và Kinh Anh Lạc. KinhPhạm Võng quyển thượng lấy Tập chủng tánh, Trưởng dưỡng tánh và Tánh chủng tánh, Bất khả hoại tánh, Đạo chủng tánh, Chánh pháp tánh để nói về cấp bậc thứ lớp của Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Phật địa; và Thập phát thú, Thập trưởng dưỡng, Thập kim cương, Thập địa để biểu đạt công năng tác dụng Hiền thánh của Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa. Văn tự của Kinh Phạm Võng tối tăm khúc mắc, rất khó hiểu, và lại có người cho rằng: Kinh mạo, không đủ làm tin (Điều này sẽ bàn kỹ ở đoạn sau), vì thế chúng tôi căn cứ vào Kinh Anh Lạc để giới thiệu.

Bồ tát trong Kinh Hoa Nghiêm cộng phân có 52 cấp bậc, trên thực tế có thể được gọi là Hiền và Thánh chỉ có 42 cấp bậc, lại vì một cấp bậc sau chót là Phật, nên cấp bậc Hiền thánh của Bồ tát chỉ có 41, cộng thêm mười cấp bậc phàm phu (giả danh) Bồ tát thành ra 51 cấp bậc.

Kinh Anh Lạc cũng đem sáu giai đoạn lớn của Thập trụ,Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác, Diệu giác phân thành sáu tánh vị là: Tập chủng tánh, Tánh chủng tánh, Đạo chủng tánh, Thánh chủng tánh, Đẳng giác tánh, Diệu giác tánh, đại khái tương tự với Kinh PhạmVõng và có chút bất đồng. Các nhà Duy Thức thêm Tứ gia hạnh vị vào sau Thập hồi hướng thành ra 56, thông thường vẫn lấy cách phân của Hoa Nghiêm làm chủ yếu.

Quá trình học Phật của chúng ta là ba A tăng kỳ kiếp vun trồng phước huệ, trăm kiếp tu tướng hảo. Đây là bắt đầu kể từ khi tiến vào Thập trụ của Hiền vị. Thập tín vị của giai đoạn phàm phu trước Hiền vị không được bao gồm trong ấy. Theo Kinh Anh Lạc nói: “Phật tử tu hành mười tâm này hoặc trải qua một kiếp, hai kiếp mới được nhập vào Sơ trụ vị”. Đây là nói từ lúc đầu tiên phát tâm tin Phật học Phật, tu hành liên tục không gián đoạn, phải trải qua từ một đến ba kiếp mới có hy vọng tiến vào cấp bậc Sơ trụ Bồ tát của Hiền vị, nhưng Luận Đại Thừa Khởi Tín nói:”Tu hành tín tâm trải qua một vạn kiếp “, nghĩa là: Từ lúc mới phát tâm đến tín tâm công đức thành tựu và tiến vào Sơ trụ vị, cần phải trải qua thời gian mười ngàn đại kiếp! Đây so với Kinh Anh Lạc nói, lâu xa hơn quá nhiều. Nhưng ở đây có một cách giải thích: Tâm chí của phàm phu là không kiên cố, không chân thật, vì thế trong mấy mươi năm của một đời người ngắn ngủi cũng khó làm đến tán tâm bất thoái, hoạt động của thân tâm phàm phu đều là thiện ác lẫn lộn, nửa tin nửa nghi, hà huống chúng ta ở trong dòng nước biển lớn sinh tử chìm nổi, lên xuống luân hồi không thôi! Đời này tin Phật, học Phật, nếu nguyện lực không kiên cố, tín tâm không chân thật, hành vi không thanh tịnh, ý niệm không chính xác, đời sau lại rất khó tin Phật pháp. Nhưng đã từng vun trồng nhân tố tin Phật, qua một thời gian tương đương sẽ hiển hiện lại, sẽ tin Phật, học Phật lại, giống như bỏ một hạt cát có màu vào trong một chum nước đục, rồi dùng cây gậy quậy nó, hạt cát có màu ấy tất nhiên sẽ thường thường hiện ở trên mặt nước, lại thường thường chìm ở trong nước, và cơ hội hiển hiện ở trên mặt nước rất ít, còn cơ hội chìm trong nước rất nhiều, trừ phi lấy nó đem ra khỏi nước mới được một phen hiển hiện. Phàm phu tin Phật, học Phật, tình trạng cũng giống như vậy. Nhân vì tín tâm và nguyện lực của con người đều riêng có sai khác, vì thế, quá trình thời gian của sự học Phật cũng đều riêng có dài, ngắn, sai khác, bất đồng. Nói mười ngàn đại kiếp hoặc một, hai, ba kiếp, đó cũng chỉ là nói đại khái về đơn vị thời gian. Nếu như tín tâm kiên định, nguyện lực kiên cố, có thể ở trong một, hai, ba kiếp, cho đến chẳng cần một, hai, ba kiếp, cũng có thể tiến nhập vào Hiền vị của Sơ trụ. Vì thế, Viên giáo có nói: Người thượng căn một đời liền nhập vào Sơ trụ vị (tương đương với Phật vị của Tạng giáo); trái lại, nếu như tín tâm bạc nhược nguyện lực không kiên cố, căn khí hạ liệt, giả sử trải qua mười ngàn đại kiếp cũng chưa chắc có thể tiến nhập vào cấp bậc Sơ trụ.

Nay đem 52 cấp bậc của 6 giai đoạn lớn chia ra trình bày như sau:

1. Thập tín vị

Thập tín còn được gọi là Thập tín tâm, đó là: Tín tâm, Niệm tâm, Tinh tấn tâm, Huệ tâm, Định tâm, Bất thoái tâm, Hồi hướng tâm, Hộ pháp tâm, Giới tâm và Nguyện tâm.

Trong sự lần lượt thăng tấn của 10 cấp bậc này, Bồ tát phải điều phục kiến hoặc và tư hoặc của tam giới. Kiến hoặc là tất cả vọng kiến như ngã kiến và biên kiến. Tư hoặc là tất cả phiền não như những mê tình của tham, sân, si. Trong Thập tín vị này tuy không thể đoạn trừ sạch hết kiến hoặc, tư hoặc, nhưng phải điều phục nó, không cho nó tiếp tục gây họa. Bằng không, không thể nào nhập vào Hiền vị, hằng bị phiền não của tam giới trói buộc, vĩnh viễn trầm luân trong dòng nước xoáy lớn sinh tử của tam giới.

2. Thập trụ vị

Thập trụ còn được gọi là Thập trụ tâm, đó là: Phát tâm trụ, Trị địa tâm trụ, Tu hành tâm trụ, Sinh quý tâm trụ, Phương tiện cụ trúc tâm trụ, Chánh tâm trụ, Bất thoái tâm trụ, Đồng chân tâm trụ, Pháp vương tử tâm trụ và Quán đảnh tâm trụ.

Trong Thập trụ vị này, Sơ trụ đoạn trừ kiến hoặc của tam giới nội, Đệ thất trụ đoạn trừ tư hoặc của tam giới nội, đến đây không còn bị các phiền não tham, sân, si làm mê hoặc; vì thế không còn tiếp tục gia tăng nghiệp lực sinh tử, được chứng nhập vào cảnh giới của Vị bất thoái. Đệ bát trụ trở lên đoạn từ trần sa của tam giới nội, điều phục trần sa của tam giới ngoại. Trần sa là một thứ hoặc của ba hoặc (Kiến tư, Trần sa, Vô minh) của Tông Thiên Thai lập. “Kiến tư hoặc” chướng ngại đạo Niết bàn của chúng ta và khiến cho trầm luân sinh tử. “Trần sa hoặc” chướng ngại đạo Bồ đề hoá độ chúng sinh của chúng ta và khiến cho không thể thành Phật. Ở đây gọi Trần sa cũng tương tự như Tông Duy Thức gọi là Sở tri chướng. Do sở tri có chướng nên không thể thông đạt pháp môn độ chúng sinh nhiều như số trần sa (cát bụi), vì thế gọi là Trần sa. Trong 10 vị này dùng pháp quán tưởng “từ Giả nhập Không” được thấy lý chân đế mà khai huệ nhãn thành Nhất thiết trí. “Không trí”biết suốt tất cả các pháp đều là tịch diệt nhất tướng, gọi trí đó là Nhất thiết trí. “Tịch diệt, Không, Như” là thật tướng của vạn pháp, vì thế gọi là lý chân đế.

3. Thập hạnh vị

Thập hạnh còn gọi là Thập hạnh tâm, đó là: Hoan hỷ tâm hạnh, Nhiêu ích tâm hạnh, Vô sân hận tâm hạnh, Vô tận tâm hạnh, Ly si loạn tâm hạnh, Thiện hiện tâm hạnh, Vô trước tâm hạnh, Tôn trọng tâm hạnh, Thiện pháp tâm hạnh và Chân thật tâm hạnh.

Trong Thập hạnh vị này, thứ lớp đoạn giới ngoại trần sa, dùng pháp quán tưởng “từ Không nhập Giả”, lấy lý tục đế mà khai thị pháp nhãn thành Đạo chủng trí. Đạo chủng trí còn được gọi là Đạo chủng huệ. Đạo cũng có thể hiểu là pháp môn. Pháp môn có vô lượng, Đạo cũng có vô lượng, trí tuệ thông đạt đạo vô lượng được gọi là Đạo chủng trí. Từ chân đế mà nói, thật tướng các pháp là “Không, Như, Tịch diệt”, nhưng muốn thể hội thật tướng các pháp cần phải từ Giả tục nhập vào Chân. Nhân vì sự tồn tại của chúng sinh là tồn tại ở trong giả tướng, hoặc tục đế của huyễn hữu hư vọng, lợi dụng trí huệ thông đạt vô lượng pháp môn này để tự cứu mình và cứu người, đó là từ “Không nhập Giả”, là thấy lý tục đế. Đoạn trước nói “Huệ nhãn” là chỉ cho thấy “lý chân đế” là trí tuệ biết thật tướng các pháp. Ở đây nói “ Pháp nhãn” là chỉ cho đắc đến “lý tục đế”, là trí tuệ thông đạt pháp môn cứu độ chúng sinh.

4. Thập hồi hướng vị

Thập hồi hướng vị còn gọi là Thập hồi hướng tâm, đó là: Cứu độ nhất thiết chúng sinh ly chúng sinh tướng hồi hướng tâm, Bất hoại hồi hướng tâm, Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng tâm, Chí nhất thiết xứ hồi hướng tâm, Vô tận công đức hồi hướng tâm, Tuỳ thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng tâm, Tuỳ thuận đẳng quan nhất thiết chúng sinh hồi hướng tâm, Như tướng hồi hướng tâm, Vô phược giải thoát hồi hướng tâm, Pháp giới vô lượng hồi hướng tâm.

Mười cấp bậc của Thập hồi hướng tâm này điều phục vô minh, tu tập trung quán. Ở đoạn trước đã nói vô minh cũng là một hoặc trong ba hoặc của Tông Thiên Thai lập ra: Kiến tư hoặc chướng ngại đạo Niết bàn, Trần sa hoặc chướng ngại đạo Bồ đề, Vô minh hoặc chướng ngại đạo Trung quán. “Bất chân bất tục; tức chân tức giả” thấy thật tướng tịch diệt của chân đế, nhưng không kẹt vào trên một niệm của tịch diệt; thấy tục đế hư huyễn, vì thế tuỳ thuận hoá đạo mà không nhiễm tục tình, đấy là đạo lý trung quán. Vô minh là một thứ phiền não vi tế, dứt đi một phần vô minh liền chứng được một phần đạo lý trung quán. Thập hồi hướng vị chỉ là điều phục vô minh. Sơ địa trở lên mới có thể lần lượt đoạn vô minh. Vô minh từng phần đoạn trừ, Thánh vị từng địa lên cao, thẳng đến Đẳng giác Bồ tát đoạn hết một phần vô minh rốt mới vào Phật địa, thành Đẳng chánh giác. Vì thế, ngay trong Thập hồi hướng vị còn chưa chứng đắc Trung đạo quán, chỉ do điều phục vô minh mà tu tập trung quán. Nhưng từ Đệ bát trụ đến Thập hồi hướng viên mãn đã là tu hành trung đạo đến Đệ nhị bất thoái của ba bậc bất thoái, đây gọi là Hạnh bất thoái. Cũng là nói Đạo giải thoát sở chứng đã cùng với Trung đạo đệ nhất nghĩa đế hợp nhất tương ưng mà thành.

Đến vấn đề thoái cùng bất thoái, Kinh Anh Lạc có nói như vầy: Nếu một kiếp, hai kiếp cho đến mười kiếp tu hành Thập tín, được vào Thập trụ, người này từ Sơ trụ đến Đệ lục trụ, nếu tu một độ thứ sáu Bát nhã ba la mật của lục độ, chánh quán hiện tiền, lại gặp được chư Phật, Bồ tát, thiện tri thức hộ niệm, tiến lên Đệ thất trụ thường trụ bất thoái. Lại nói: Nếu không gặp thiện tri thức hoặc một kiếp, hai kiếp cho đến mười kiếp thoái Bồ đề tâm; trong thời gian ấy, vì gặp nhân duyên xấu ác thoái nhập vào trong phàm phu không thiện không ác, không được gọi là Tập chủng tánh, thoái nhập vào ngoại đạo hoặc một kiếp hoặc mười kiếp cho đến ngàn kiếp làm đại tà kiến và ngũ nghịch, không có điều ác nào không tạo, đây là “Thoái tướng”. Do đây đủ thấy Bồ tát tu hành phải lấy Bát nhã (trí huệ) làm chủ yếu, không tu Bát nhã không thể nhập vào Đệ thất trụ vị, không nhập vào Đệ thất trụ vị thì khó bảo đảm bất thoái. Nếu một phen bị lui sụt tuy đến Lục trụ cũng có thể làm ác, ngàn kiếp không biết quày đầu.

5. Thập địa

Địa có nghĩa là hay sinh, hay chở; hay sinh ra ở vô lượng pháp môn của vô lượng công đức, hay chở vô lượng chúng sinh đến cứu cánh Phật địa. Địa nào cũng hay sinh, địa nào cũng hay chở; khả năng địa ở bậc trên rộng lớn hơn địa ở bậc dưới, thẳng đến cứu cánh Phật địa là đồng hư không khắp pháp giới rộng lớn không ngằn mé, cao sâu không giới hạn. Thập địa là: Hoan hỷ địa, Ly cấu địa, Phát quang địa, Diệm huệ địa, Nan thắng địa, Hiện tiền địa, Viễn hành địa, Bất động địa, Thiện huệ địa và Pháp vân địa.

Từ Sơ trụ đến Thập hồi hướng cộng chung có 30 cấp bậc là Hiền giả vị của Bồ tát, thông thường gọi tắt là Tam hiền vị. Một niệm sau cùng của thập hồi hướng trước tiên phá một phần vô minh nhập vào Sơ địa. Thập địa tu tập Trung đạo quán, dùng Trung đạo quán phá một phần vô minh hiển một phần tam đức mà chứng Đệ tam bất thoái là Niệm bất thoái, khai Phật nhãn, thành Nhất thiết trí. Sơ địa trở lên là Thánh vị Bồ tát.

Sự phân biệt giữa Thánh vị và Hiền vị là có tu chứng Trung đạo quán hay không. Chỉ cần tu một phần Trung đạo quán là phá một phần vô minh, hiển một phần tam đức. Trí huệ phá trừ vô minh và hiển hiện tam đức được gọi là Phật nhãn. Ở đây nói Phật nhãn thật ra là chỉ cho trí tuệ thể chứng bất chân bất tục và tức giả tức chơn mà thôi. Thể chứng được đạo lý chân tục viên dung là khai mở Phật nhãn, nhưng đây tuyệt không phải chỉ nói trên cửa miệng, mà nhất định phải sau khi thân chứng tâm tánh triệt để mới kể. Biết được tất cả pháp, tất cả tướng “Không, Như, Tịch diệt”; lại biết được các thứ phân loại sai biệt của tất cả pháp, tất cả tướng, trí huệ của không hữu song chiếu chân tục viên dung như thế, gọi là Nhất thiết chủng trí. Kỳ thật, Trung đạo quán, Phật nhãn, Nhất thiết chủng trí đều là chỉ cho trí huệ hay phá vô minh hay hiển tam đức mà thôi. Hiển tam đức rồi mới nhập vào thánh vị.

Tam đức là bí mật tạng Đại Niết bàn, đó là: Thể chứng bản thể Phật tánh, gọi là Pháp thân đức; rõ biết tất cả pháp tướng đúng như thật, gọi là Bát nhã đức, xa lìa tất cả hệ phược được đại tự tại, gọi là Giải thoát đức. Vì thế sinh tử của Bồ tát từ Sơ địa trở về trước là do nghiệp lực quyết định, không được tự chủ. Sinh tử của Thánh vị Bồ tát từ Sơ địa trở lên là do nguyện lực của chính mình quyết định, có thể tự do làm chủ.

Niệm bất thoái là chỉ cho trình độ rõ biết bản tế của Sinh tử và Niết bàn, của Phiền não và Bồ đề. Sinh tử Niết bàn, Phiền não Bồ đề bất nhất, bất dị (không một, không khác), niệm niệm được cùng Phật trí tương ưng. Vì thế, Bồ tát từ Sơ địa trở lên có thể tự do hoá hiện, tuy là Bồ tát mà có thể phân thân trăm cõi, xuất hiện với tư thái Đức Phật giáo hoá chúng sinh hữu duyên. Nhưng muốn cứu cánh thành Phật còn phải trải qua các địa phá trừ vô minh, mỗi địa phần chứng trung đạo, mỗi địa hiển thêm tam đức, mỗi địa khai mở một phần Phật nhãn. Đến đệ thập Pháp vân địa phá thêm một phần vô minh nữa, tiến vào cấp bậc Đẳng giác của Nhất sinh bổ xứ. Đẳng giác nghĩa là tương đẳng với Phật nhưng còn có chút bất đồng. Đến vị Đẳng giác Bồ tát, trừ Đức Phật ra không ai biết được chỗ bất đồng giữa Đẳng giác và Phật.

Chữ “Sinh” của Nhất sinh bổ xứ là chỉ cho còn có một phần biến dịch sinh tử chưa liễu thoát. Phàm phu và Bồ tát Hiền vị có sự sinh tử của xuất thai nhập thai mà lại già bệnh chết, gọi là Phần đoạn sinh tử. Bồ tát thánh vị từ Sơ địa (Kinh Anh Lạc nói từ Bát địa) trở lên thoát ly phần đoạn sinh tử của tam giới. Các Ngài mỗi khi phá một phần vô minh, tiến lên một tầng, cũng gọi là sinh tử, đó là Biến dịch sinh tử; chỉ còn một phần vô minh, chỉ còn tiến lên một bậc Đẳng giác Bồ tát nữa, thì gọi là Nhất sinh bổ xứ. Nhưng cũng có thể giải thích là còn có một lần bát tướng thành đạo: Từ cung tời Đâu Suất giáng sinh xuống nhân gian, nhập thai, xuất thế, xuất gia, thành đạo, thuyết pháp, Niết bàn, chẳng còn thọ sinh nữa.

Từ trên đã giới thiệu sơ lược về cấp bậc của Bồ tát, nếu muốn luận kỹ mỗi một cấp bậc đều có ý nghĩa bất đồng, vì giới hạn của nội dung quyển sách này chỗ này chỉ có thể trình bày như thế.

IV. BIỂU ĐỒ GIẢI THÍCH VỀ CẤP BẬC TỪNG LỚP CỦA BỒ TÁT

Để tiện cho độc giả ghi nhớ, chúng tôi đem kiếp số từng lớp và quả báo thế gian của các cấp bậc Bồ tát phân làm hai biểu đồ như sau:

 

Về cách tính thời gian thành Phật, trong Phật điển có nhiều thứ, trong biểu đồ này là do bút giả căn cứ vào tư liệu tham khảo tổng hợp mà thành, chính xác hay không còn chờ bậc cao minh ấn chứng.

Kiếp là gọi tắt của chữ kiếp ba (kalpa) của Phạn ngữ, thông thường người Ấn Độ dùng làm đơn vị tính thời gian, vì thế ứng dụng của chữ kiếp rất là rộng rãi hàm nghĩa của kiếp cũng có ngắn, dài. Nhưng kiếp thường được giải thích như sau: con người thọ từ 8 vạn 4 ngàn tuổi cứ 100 năm giảm một tuổi, dần dần giảm đến con người thọ 10 tuổi, rồi lại từ 10 tuổi cứ 100 năm tăng lên một tuổi, dần dần tăng đến con người thọ 8 vạn 4 ngàn tuổi. Quá trình một thời gian một lần giảm, một lần tăng như thế, gọi là một tiểu kiếp, 20 tiểu kiếp là một trung kiếp, 4 trung kiếp là một đại kiếp. Thông thường trong kinh nói bao nhiêu kiếp là chỉ cho đại kiếp.

A tăng kỳ là dịch âm chữ Phạn: Asamkhya, nghĩa là vô lượng số, đây là một thứ tên gọi con số lớn của Ấn Độ, nếu hỏi một A tăng kỳ là bao nhiêu? Có thể miễn cưỡng đáp: Lấy vạn vạn làm một ức, lấy vạn ức làm một triệu, thời gian một A tăng kỳ ước lượng là một ngàn vạn vạn vạn vạn vạn vạn vạn vạn triệu kiếp. Đây là thời gian rất dài, nhưng theo cách tính của Kinh Anh Lạc lại có sự bất đồng, ở đây không cần nêu ra.

Đem 52 cấp bậc phối với ba kỳ trăm kiếp cũng có nhiều thuyết. Có thuyết phân chia theo thời gian, đem Thập tín vào trong A tăng kỳ kiếp thứ nhất đến Thập địa là mãn ba A tăng kỳ kiếp, lại thêm trăm kiếp tu 32 tướng, 80 vẻ đẹp. Một trăm kiếp này có phải ở trong giai vị Đẳng giác hay không, cũng không thấy trong kinh nói rõ, cứ suy lý thì có vẻ ở trong giai vị Đẳng giác. Có thuyết phân chia theo con số cúng dường chư Phật, như Đại sư Trí Giả căn cứ vào thuyết của Luận Trí Độ, Luận Câu Xá, Luận Bà Sa nói: Gặp bảy vạn năm ngàn Đức Phật là A tăng kỳ kiếp đầu tiên, lại gặp bảy vạn sáu ngàn Đức Phật là A tăng kỳ kiếp thứ hai, lại gặp bảy vạn bảy ngàn Đức Phật nữa là mãn A tăng kỳ kiếp thứ ba. Ba kỳ hoàn thành, lục độ tu xong, lại trải qua trăm kiếp tu nhân tướng hảo mới thành Phật quả. Nếu căn cứ vào thuyết của Kinh Hiền Ngu thì: A tăng kỳ kiếp đầu tiên cúng dường tám vạn tám ngàn Đức Phật, A tăng kỳ kiếp thứ hai cúng dường 9 vạn 9 ngàn Đức Phật. A tăng kỳ kiếp thứ ba cúng dường mười vạn Đức Phật.

Trên thực tế, số kiếp thời gian dài ngắn và cúng dường chư Phật nhiều ít, đều là căn cứ vào căn khí sâu cạn và trình độ nỗ lực của mỗi người mà định. Nếu căn khí sâu dày và lại nỗ lực không lười mỏi thì ba đại A tăng kỳ kiếp có thể sẽ không dài đến như thế. Nếu như căn khí cạn mỏng mà lại buông lung biếng nhác, ba đại A tăng kỳ kiếp còn dài hơn đã nói ở trên. Đến như cúng dường chư Phật nhiều ít lý cũng như vậy. Nếu kiền thành cúng dường, sống chết không thay đổi, suốt đời chăm lo thì công đức cúng dường một Đức Phật cũng rất lớn. Nếu như biếng nhác, tâm ý không thành kính, ngẫu nhiên cúng dường, trong suốt một đời cũng khó cúng dường được hai, ba lần. Như vậy, tuy cúng dường ngàn Phật, vạn Phật, công đức vẫn không nhiều. Vì thế, chúng ta học Phật không cần tính thời gian dài ngắn, chỉ cần hỏi mình có hết lòng hay không? Theo trong kinh nói, Thế Tôn Thích Ca cùng Bồ tát Di Lặc đồng thời phát tâm, vì Đức Phật Thích Ca tinh tấn nên thành đạo trước, ngài Di Lặc giải đãi cho nên đến sau, đây là một bằng chứng rõ ràng. Lại như Phật ở trên hội Pháp Hoa thọ ký thành Phật cho các đại đệ tử: Ma ha Ca Diếp phải phụng thờ ba trăm vạn ức Phật rồi sau mới thành Phật; Ca Chiên Diên phải cúng dường hai vạn tám ngàn ức Phật, sau mới thành Phật; Mục Kiền Liên phải cúng dường hai trăm vạn ức tám ngàn Đức Phật, sau mới thành Phật; trong đó, con số cúng dường chư Phật cũng đều bất đồng.

1. Biểu đồ nói về Bồ tát đoạn hoặc và quả báo thế gian (Xem trang bên) 

Bồ tát vốn là xuất thế mà không lìa thế gian, vì đoạn phiền não nên phải xuất thế, vì độ chúng sinh nên phải ở thế gian. Bồ tát ở tại thế gian tự phải theo phước đức của mình cảm được quả báo thế gian. Nhưng đây chỉ là quả báo của thế gian đáng được của Bồ tát, không đồng với sự bắt buộc phải có quả báo thế gian, bởi vì Bồ tát cấp bậc càng cao thì phạm vi càng lớn và phẩm loại hoá hiện cao, cũng có thể hoá hiện thấp, như Bồ tát Đẳng giác được cảm quả báo Tam Giới Vương (vua tam giới) cũng có thể hoá làm vua của tam đồ, đến trong địa ngục, ngạ quỷ thì làm quỷ vương, đến trong súc sinh thì làm thú vương, trong loài ngưới làm nhân vương, cho đến hoá làm Tam giới vương. Cho nên cũng không thể khẳng định Bồ tát một cấp bậc nào nhất định phải cảm được quả báo thế gian ở một đẳng cấp nào. Đẳng cấp của quả báo, mỗi cấp bậc đều có một hạn độ cao nhất, trong biểu đồ liệt kê là hạn độ cao nhất của quả báo của các cấp bậc mà thôi. Điểm này chúng ta cần phải hiểu rõ, đồng thời chúng ta từ trên trình độ của phần vị đoạn hoặc cũng có thể tự mình xét nét công phu tu trì của mình cứu cánh đã đến cấp bậc nào? Không nên quên lãng điều phục kiến hoặc tuy có kết quả là không bị thiên kiến, ngã kiến làm mê hoặc; cũng như điều phục tư hoặc tuy có kết quả là không bị tham, sân, si chuyển động, nhưng vẫn còn ở trong giai đoạn phàm phu của Thập tín vị mà thôi. Ngày nay có một vài người tự cho rằng mình tự khai ngộ, kiến đạo, nhập Hiền, xuất Thánh, tôi tin rằng đa số họ qua không nổi sự khảo nghiệm.

V. BỒ TÁT HẠNH PHẢI NHƯ THẾ NÀO?

Được người gọi là Bồ tát là rất dễ dàng, chính mình muốn được gọi là Bồ tát cũng rất dễ dàng, nhưng muốn chân chính làm đến hành vi của Bồ tát thì khó lắm! Bồ tát tuy phân chia ra phàm phu và Hiền Thánh, không cần Bồ tát mới phát tâm làm được như Bồ tát thánh vị, nhưng mục tiêu của Bồ tát hạnh vẫn là một, ước vọng của Bồ tát đạo là tương đồng. Chúng ta tuy chưa từng đạt đến mục tiêu nhưng chẳng nên không có ước vọng. Nhân đây tôi xin trích một đoạn văn trong Bồ tát Nội Giới Kinh để tham khảo: “Bồ tát đạo rất khó, ta (Phật) đã không tiếc thân mạng hy sinh rất nhiều để cứu tế chúng sinh.

Làm một vị Bồ tát dĩ nhiên không được làm ác và tạo tội nhưng vì cứu độ chúng sinh cũng quyết không sợ vì cứu chúng sinh mà chính mình phải làm ác tạo tội.

Lúc nghiệp báo của đời trước đến, hoặc lúc chủ nợ đến đòi, Bồ tát chỉ vui vẻ đón rước mà không sợ hãi, bởi vì lúc đó tội nghiệp của mình sớm được tiêu trừ.

Làm một vị Bồ tát thọ trì Phật pháp là phải sống hoàn toàn như pháp, thọ Phật giới rồi phải sống thanh tịnh đúng như luật.

Bồ tát phải có tín tâm kiên cố mới được cứu cánh thành Phật, phải học rộng các thứ tri thức trong ngoài mới có thể tuỳ thuận giáo hóa chúng sinh một cách rộng lớn; phải dùng tâm từ bi, lời nói dịu dàng khi đến gần gũi chúng sinh, không nên trái lại làm tổn thương người khác.

Bồ tát tuy không ngại gì sống chung với vợ con, nhưng phải xem như ngăn ngừa oan gia, cẩn thận đề phòng vợ con phá hoại đạo niệm của mình. Tuy cẩn thận đề phòng vợ con như nuôi oan gia, mà không bao giờ được đem thái độ oan gia đối đãi với vợ con, phải thường có lòng thương yêu và săn sóc.

Bồ tát phải xem người nữ như kẻ dữ, rắn độc, nhưng cũng không sợ sự phá hoại và dao động của ái dục, vì tâm địa của Bồ tát thanh tịnh như hoa sen, tuy sinh ở trong bùn nhơ nhưng không dính bùn nhơ. Bồ tát là người ly dục, xa dục, tuy vì độ chúng sinh mà vào trong trận tuyến ái dục, nhưng lại không nhân đây mà bị ái dục làm nhiễm ô.

Bồ tát ở một mình trong núi sâu không cảm thấy sợ hãi. Tuy vẫn sinh hoạt với vợ con trong gia đình mà vẫn xem như sống một mình trong núi sâu. Tâm thường vui vẻ, an tịnh, không có tư tưởng phân biệt thống khổ và an lạc.

Làm một vị Bồ tát chân chính phải có thể vào nước không chìm, vào lửa không cháy, có người muốn xin óc não liền cho người ấy óc não, có người muốn xin mắt thì cho người ấy con mắt, có người muốn xin mũi liền cho người ấy cái mũi, có người muốn xin vành tai thì cho người ấy vành tai. Giả sử đem thân cho cọp ăn cũng không tiếc thân mạng. Chỉ có như thế mới là công đức tôn quý của hàng Đại sĩ Bồ tát”.

Kinh văn trích dịch ở trên có thể là dịch chưa được hay theo nguyên ý, độc giả nếu có khả năng có thể tự tìm nguyên bản kinh văn đối chiếu. Kinh này in trong Đại ChánhTạng tập thứ 24, trang 1031 – 1032.

Bồ tát được thuật trong đoạn văn trên phần nhiều là chỉ Thánh vị, chứ chẳng phải hàng phàm phu có thể làm đến. Trên thực tế, như trong Kinh Anh Lạc nói, phàm phu của Thập tín vị là “Danh tự Bồ tát” hoặc “Giả danh Bồ tát”, đến Sơ địa rồi mới là “Thiệu Bồ tát vị” (nối ngôi vị Bồ tát) trở thành Bồ tát chân chính. Nhưng đã nguyện làm Phật thì phải mong làm Thánh, làm Hiền, để sau cùng đạt đến trình độ của Thánh vị.

 

 

..........................................

 

Chương 2. Nội Dung Và Phân Biệt Của Bồ Tát Giới

 

 

I. BỒ TÁT GIỚI LÀ GÌ?

Sau khi chúng ta đã hiểu rõ ý nghĩa về Bồ tát tiếp theo dây cần phải thảo luận về vấn đề Bồ tát giới, bởi vì lý do của Bồ tát xưng là Bồ tát chẳng phải vô cớ, cũng không tự mình cho mình là Bồ tát, người khác là Bồ tát. Danh từ Bồ tát xuất phát từ Phật pháp, như muốn thành Bồ tát tự nhiên phải cầu điều ấy nơi Phật pháp. Nói một cách giản đơn Bồ tát là do thọ Bồ tát giới mà ra. Lại, vì thế, Bồ tát giới là cái nôi dưỡng dục tam thế chư Phật.

Vậy Bồ tát giới là gì? Giới của Bồ tát thọ, gọi là Bồ tát giới. Muốn làm Bồ tát trước tiên phải thọ Bồ tát giới, như trong Kinh Phạm Võng nói: “Bồ tát giới là bản nguyên của chư Phật, là căn bản của Bồ tát, là căn bản của đại chúng Phật tử”. Người không hành Bồ tát đạo tuy tìm Phật nhưng vĩnh viễn không thể thành Phật. Muốn hành Bồ tát đạo phải thọ Bồ tát giới. Vì thế, Bồ tát giới là nguyên nhân căn bản của tất cả chư Phật thành Phật, cũng là chỗ căn bản của Bồ tát để thành Bồ tát. Một từ “Phật tử” trong các kinh luận Đại thừa, Tiểu thừa giải thích rất nhiều, căn cứ vào kinh luận Đại thừa cho rằng phải là Bồ tát mới có thể nhân vì có chủng tử thành Phật mới xưng là Phật tử. Tỷ như Kinh Lăng Già gọi Bồ tát Đệ bát địa là Tối thắng tử, Luận Phật Tánh gọi Bồ tát Sơ địa là Phật tử. Kinh Phạm Võng nói người phát bồ đề tâm thọ Bồ tát giới đều được gọi là Phật tử. Căn cứ vào quan điểm của Tiểu thừa như Tứ Phần Luật cho rằng: Người tiếp nhận vào biển lớn Phật pháp, dù là Tiểu thừa, cho đến chỉ thọ tam quy ngũ giới của Tiểu thứa, đều là Phật tử. Chúng ta có thể thấy, Đại thừa lấy chủng tử thành Phật làm Phật tử. Nay giảng Đại thừa Bồ tát giới, chỗ gọi là “Căn bản của Phật tử” đương nhiên là chỉ căn bản của chủng tử thành Phật.

Trong Kinh Phạm Võng lại nói: “Tất cả người có tâm đều nên thọ Phật giới, tức nhập vào địa vị chư Phật, vì đồng bậc Đại giác, chân thật là Phật tử”. Bồ tát giới là nguyên nhân căn bản của tất cả chư Phật thành Phật. Vì thế, từ trên nhân vị nói, gọi là Bồ tát giới; từ trên quả vị nói, gọi là Phật giới. Cho nên, trong điều thứ 41 của Kinh Phạm Võng còn gọi: “Bồ tát giới là Đại giới của ngàn Phật”, ý muốn nói ngàn Phật ở trong kiếp Trang Nghiêm thời quá khứ do thọ trì Bồ tát giới mà thành Phật, ngàn Phật ở trong kiếp Tinh Tú thời vị lai cũng thọ trì Bồ tát giới mới được thành Phật, cho đến suy ra ngàn Phật của quá khứ tam thế tam kiếp, ngàn Phật của vị lai tam thế tam kiếp, ngàn Phật của quá khứ vô lượng tam thế tam kiếp. Tóm lại, tất cả chúng sinh, tất cả Bồ tát, tất cả chư Phật, không một ai không do thọ trì Bồ tát giới mà được thành Phật. Do đây đủ biết sự lớn lao của công năng Bồ tát giới không thể nghĩ bàn.

II. NỘI DUNG CỦA BỒ TÁT GIỚI

Bồ tát giới đáng tôn đáng quý là do vì nó bao hàm và còn vượt hơn tất cả giới. Bồ tát giới là Ba la đề mộc xoa (Biệt giải thoát giới), ngoài giới của 7 chúng Ưu bà tắc, Ưu bà di, Sa di, Sa di ni, Thức xoa ma na ni, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni. Thân phận của Bồ tát có thể trong 7 chúng, cũng có thể ở ngoài 7 chúng. Ưu bà tắc, Ưu bà di được thọ Bồ tát giới, cho đến Tỳ kheo, Tỳ kheo ni cũng được thọ Bồ tát giới, đây là trong 7 chúng thọ thêm Bồ tát giới. Theo Kinh Phạm Võng nói: “Chỉ cần hiểu được lời nói của Pháp sư đều được thọ giới”. Vì thế, súc sinh cho đến người biến hoá như quỷ thần đều có tư cách thọ Bồ tát giới và được gọi là Bồ tát, đây là đơn thọ Bồ tát giới ngoài 7 chúng. Những Bồ tát đơn thọ này, trên trình độ phát tâm mà nói, tuy vượt qua 7 chúng của Tiểu thừa, nhưng những người ấy không có địa vị trong 7 chúng, nên cũng không được đặt trước 7 chúng. Bởi vì thứ tự của Phật chế, lấy 7 chúng làm chuẩn chứ không lấy Bồ tát làm chuẩn.

Nội dung của Bồ tát giới là Tam tụ tịnh giới, cộng chung chỉ có ba câu nhưng lại bao quát hết pháp môn tự độ, độ tha, trên cầu thành Phật, dưới hoá độ chúng sinh. Ba câu này là:

1. Trì tất cả tịnh giới, không một tịnh giới nào chẳng trì.

2. Tu tất cả thiện pháp, không một thiện pháp nào chẳng tu.

3. Độ tất cả chúng sinh, không một chúng sinh nào chẳng độ.

Trong kinh, Phật gọi Tam tụ tịnh giới này là Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiều ích hữu tình giới. Tam tụ tịnh giới nghĩa là tập hợp tất cả Phật pháp vào ba môn lớn: Trì luật nghi, Tu thiện pháp, Độ chúng sinh làm cấm giới để thọ trì. Trong 7 chúng của Tiểu thừa thì làm ác là có tội, không tích cực tu thiện không có tội, sát sinh là có tội, không tích cực cứu hộ sinh mạng cũng không có tội. Vì thế, Tiểu thừa chỉ tích cực bỏ ác, tiêu cực làm thiện, tích cực giới sát, tiêu cực cứu hộ sinh mạng. Bồ tát giới thì phải tích cực bỏ ác làm thiện, cũng phải tích cực giới sát, cứu hộ sinh mạng, đem không tu thiện và không cứu hộ sinh mạng liệt vào phạm vi của cấm giới, nhân đây Bồ tát giới không những bao hàm thất chúng giới mà còn vượt hơn thất chúng giới.

Nội dung của Tam tụ tịnh giới có thể nói là bao hàm hết thảy: Nhiếp luật nghi giới hàm dung tất cả giới luật và oai nghi của Đại thừa, Tiểu thừa; Nhiếp thiện pháp giới bao hàm 8 vạn 4 ngàn pháp môn xuất ly; Nhiêu ích hữu tình giới bao quát từ bi hỷ xả hoằng nguyện và tinh thần rộng độ tất cả chúng sinh.

Vì thế, Tam tụ tịnh giới cũng bao quát cả tinh thần của Tứ hoằng thệ nguyện.

                             

Nội dung của Bồ tát giới là Tam tụ tịnh giới. Tinh thần của Tam tụ tịnh giới là pháp môn học Phật tích cực, làm tất cả điều thiện, đầy đủ các đức, bao hàm muôn pháp thảy đều không sót, không công đức nào không thành tựu.

III. CHỦNG LOẠI CỦA BỒ TÁT GIỚI

Bồ tát giới là Biệt giải thoát giới ngoài thất chủng giới, vì thế người thọ thất chúng giới rồi cố nhiên được thọ thêm Bồ tát giới, người chưa từng thọ thất chúng giới cho đến người không đủ tư cách thọ thất chúng giới cũng được thọ Bồ tát giới. Cho nên, tính chất của Bồ tát giới cũng tương tự như Bát giới. Bát giới cũng là một thứ Biệt giải thoát giới ngoài thất chúng giới, điều này trong thiên Bát Quan Giới Trai đã có nói đến.

Nhưng, trong Bồ tát giới có điểm tương tợ với Bát giới là Đốn lập giới, lại có điểm bất đồng với Bát giới mà tương tợ với Tiệm thứ giới của thất chúng giới. Do đó, chủng loại của Bồ tát đại thể phân ra làm hai tính chất: Một loại là Bồ tát giới đốn lập có thể đơn thọ, một loại là Bồ tát giới tiệm thứ, thọ thêm sau khi đã thọ tam quy ngũ giới.

Từ xưa đến nay, trong Tạng Kinh đã thu tập Bồ tátGiới Bổn hoặc Bồ tát Giới Kinh dịch thành Hán văn, gồm có 6 loại:

1. Kinh Bồ tát Anh Lạc Bổn Nghiệp.

2. Phạm Võng Kinh Bồ tát Giới Bổn.

3. Du Già Luận Bồ tát Giới Bổn.

4. Bồ tát Địa Trì Kinh Giới Bổn.

5. Bồ tát Thiện Giới Kinh Giới Bổn.

6. Ưu bà tắc Giới Kinh Giới Bổn.

Nếu phân loại theo Đốn, Tiệm, thì Kinh Anh Lạc,Phạm Võng thuộc loại Đốn lập. Kinh Anh Lạc quyển hạ nói: “Người mới hành đạo Bồ tát, hoặc trong tín nam, tín nữ các căn không đủ, huỳnh môn, dâm nam, dâm nữ, nô tỳ, người tiến hóa đều thọ đắc giới”. Đủ thấy chẳng hạn cuộc nơi loài người đều được thọ Bồ tát giới. Kinh Phạm Võng quyển hạ cũng có nói: “Người thọ Phật giới, không kể là Quốc vương, Vương tử, bá quan, tể tướng, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, 18 cõi phạm Thiên, Thiên tử 6 tầng trời cõi Dục, thứ dân, huỳnh môn, dâm nam, dâm nữ, nô tỳ, bát bộ quỷ thần, thần kim cang, súc sinh, cho đến người biến hóa, hễ hiểu được lời của Pháp sư đều thọ đắc giới”, mà không nói chẳng thọ thất chúng giới thì không được thọ Bồ tát giới, chỉ cần nghe hiểu lời của Pháp sư giảng về nội dung của giới pháp Bồ tát, giả sử người chưa từng tiếp xúc với Phật pháp cũng có thể thọ giới, đắc giới. Vì thế nói đây là Đốn lập.

Còn 4 loại Giới Kinh: Du già, Địa Trì, Thiện Giới, Ưubà tắc là thuộc về Tiệm thứ giới. Kỳ thật nguyên bản chữ Phạn của 4 bộ này chỉ có 2 thứ, vì Du già, ĐịaTrì, Thiện Giới đều thuộc đồng bổn dị dịch của phẩm Bồ tát Địa trong Luận Du già sư địa, vì thế đồng một hình thức, chỉ cần nêu ra một loại là gồm cả ba.

Như trong Thiện Giới Kinh nói: “Bồ tát Ma ha tát nếu muốn thọ trì Bồ tát giới, trước tiên phải tịnh tâm thọ thất chúng giới”. Điều này nói rõ ràng: Bồ tát giới không được đơn thọ hoặc đốn thọ, trước tiên phải thọ toàn bộ hay thiểu bộ của thất chúng giới, hoặc một phần của một chúng giới rồi sau đó mới được thọ Bồ tát giới.

Bồ tát giới của Ưu bà tắc Giới Kinh vốn là Đại thừa giới của người tại gia chứ chẳng phải là Bồ tát giới. Đây cũng là một loại Tiệm thứ giới rất khó được thọ của Đại thừa giới. Trước khi thọ giới phải theo thứ tự lớp cúng dường cha mẹ, sư trưởng, vợ con, hiện tại tri thức, nô tỳ, đạo nhân xuất gia, và hỏi chín thú giá nạn: Gia thuộc không cho, thiếu nợ người khác, thân tâm có bệnh, ô tịnh phạm hạnh, làm tội ngũ nghịch, trộm pháp tặc trụ, khó phân biệt phái nam hay phái nữ, giết người có tâm đạo, vọng ngữ trước chúng. Nếu phạm một điều thì không được thọ giới. Trước khi thọ Bồ tát giới 6 trọng, 28 khinh, phải thực hành tam quy ngũ giới. Tuy đã thọ ngũ giới, cũng phải trải qua 6 tháng xem xét, rồi ở trong 20 Tỳ kheo tăng làm pháp yết mà thọ giới. Đủ thấy ở đây không phải không phân phẩm loại mà thọ được Bồ tát giới. Tại sao phải nghiêm khắc như thế? Trong phẩm Thọ Giới của Kinh này quyển ba nói: “Giới Ưu bà tắc này làm căn bản của Sa di thập giới, Đại Tỳ kheo giới, Bồ tát giới, cho đến A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Chí tâm thọ trì Ưu bà tắc giới sẽ được vô lượng lợi ích của các giới ấy”. Đây là nói bản thân của Ưu bà tắc giới là căn bản của Sa di giới, Tỳ kheo giới, Bồ tát giới; thọ Ưu bà tắc giới rồi mới được vô lượng lợi ích của Sa di giới, Tỳ kheo giới, Bồ tát giới.

Nói đến vấn đề giới tại gia và giới xuất gia, chúng ta cần phải phân biệt nói thêm. Căn cứ vào tinh thần của Bồ tát giới mà nói, đã là Bồ tát đều phải đoạn trừ dâm dục, hoặc vì phương tiện độ chúng sinh mà có hành vi dâm dục, song không được có niệm dâm. Tiểu thừa trọng giới hạnh, Bồ tát trọng giới tâm, Bồ tát tại gia của Thánh vị vì bi tâm độ chúng sinh mà không ngại hành dâm, tuyệt không đồng với phàm phu vì tham luyến khoái lạc dâm dục nên hành dâm. Vì thế, tinh thần căn bản của Bồ tát giới là đoạn dâm, đã đoạn dâm thì sự phân biệt tại gia, xuất gia cũng chỉ là hình tướng hóa hiện bất đồng mà thôi. Nhưng trong 6 loại Bồ tát Giới Bổn do nơi đối với cơ nghi bất đồng nên có sự phân biệt tại gia, xuất gia và thiên khinh, thiên trọng.

Sự phân biệt tại gia và xuất gia là lấy giới dâm làm tiêu chuẩn. Giới dâm của Kinh Anh Lạc là “không được cố dâm”. Du già Giới Bổn nói: “Bồ tát xuất gia không được hành phi phạm hạnh”. Bồ tát tại gia “thấy có nữ sắc, lúc đó tâm không dính mắc, dù làm pháp dâm dục mà tâm của Bồ tát vẫn tiếp tục không dính mắc”, “nếu thỏa mãn dâm dục của người nữ kia một cách tự tại rồi thì khéo dùng phương tiện dẫn dắt khiến cho người nữ kia vun trồng thiện căn”, “Bồ tát trụ tâm từ mẫn hành phi phạm hạnh”.

Giới khinh của Địa Trì Kinh Giới Bổn tuy giới mục đồng với Du già Giới Bổn, chỉ riêng chưa liệt kê điều văn tánh giới nói về phương tiện khai phạm 7 chi của thân miệng (sát sinh, trộm cướp, dâm dục, vọng ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ), vì thế xem đồng như chỉ có giá mà không có khai. Trong giới khinh của Thiện GiớiKinh Giới Bổn có nêu ra: Giới vào nhà bạch y chẳng được thuyết pháp, giới đồng đi một đường với Tỳ kheo ni, giới chứa đồ vật của bạch y, giới giường cao quá tám ngón tay, đều thuộc giới hạnh của người xuất gia. Giới trọng của Ưu bà tắc Giới Kinh là giới Tà dâm, giới khinh là giới Phi thời phi xứ hành dâm.

Từ những điều văn đã nêu ra ở trên, chúng ta có thể phân biệt một cách đại khái: Anh Lạc và Phạm Võng là đoạn dâm mà chẳng phải tuyệt không dâm hạnh, lấy người xuất gia làm chủ và kiêm cả tâm hạnh tại gia; Du già thì gồm ca tại gia và xuất gia; Địa Trì và Thiện Giới thì xuất gia; Ưu bà tắc Giới Kinh thì tại gia.

Nay đem tính chất của 6 loại giới bổn này lấy đốn lập và tiệm thứ, xuất gia và tại gia liệt kê theo biểu đồ như sau:

                           

Ở đây chúng tôi cần phải nói thêm: Tinh thần căn bản của Bồ tát giới là tuyệt đối ly dục, song không ngại gì thị hiện có vợ con mà hành phạm hạnh, vì thế, có thể hiện hình tướng tại gia; Ưu bà tắc giới là căn bản của Bồ tát giới, nhưng không phải là Bồ tát giới, chỉ thuộc về Đại thừa giới, người đã thọ Đại thừa giới, thực hành lục độ, cho nên cũng có thể gọi là Bồ tát tại gia. Đây là điều cần phải biết rõ.

Căn cứ theo sự phân loại của Luật sư Linh Chi: “Bồ tát giới có hai tông, một là tông Hoa Nghiêm bộ, hai là Pháp Hoa bộ” (Chi Uyển Di Biên, quyển 2). Ngài cho rằng Phạm Võng gồm cả hai môn đốn tiệm, thuộc Hoa Nghiêm bộ; Thiện Giới Kinh tiệm thứ thọ, thuộc Pháp Hoa bộ. Biểu đồ bút giả liệt kê ở trên cũng chỉ là phân biệt đại thể mà thôi.

IV. NGUYÊN DO CỦA BỒ TÁT GIỚI

Nói đến nguyên do của Bồ tát Giới có thể phân biệt làm ba loại: Anh Lạc và Phạm Võng là một loại; Du Già,Địa Trì, Thiện Giới là một loại; Ưu bà tắc Giới Kinh riêng thành một loại. Nay phân ra thuật như sau:

1. Loại Anh Lạc, Phạm võng

Có người cho rằng Kinh Phạm Võng thuộc Hoa Nghiêm bộ: Phật mới thành Chánh giác ở Diệu Quang Đường tụng ra Phạm Võng. Thái Hiền Cổ Tích Ký nói:

“Diệu Quang Đường, Kinh Hoa Nghiêm gọi là Phổ Quang Đường, nhân Phật phóng quang mà đặt tên, tại nước Ma Già Đà nơi đạo tràng tịch diệt, cách cây bồ đề 3 dặm”. Đủ biết Phạm Võng Giới, Phật thuyết trong nước Ma Già Đà dưới quyền cai trị của vua Tần Bà Sa La, cách cây bồ đề của Phật thành đạo chỉ có 3 dặm.

Duyên khởi thuyết pháp của Kinh Anh Lạc cũng là: “Một thuở nọ, Đức Phật trở lại nước của vua Bình Sa tức là Tần Bà Sa La, nơi thành Chánh giác dưới cội Bồ đề Ngài ngồi lại chỗ cũ, lại phóng ra 42 tia sáng”. Sau khi phóng quang, Ngài nói cảnh giới 52 ngôi vị Bồ tát, tiếp theo ở quyển hạ, Ngài nói về phương pháp thọ giới của Thập Vô Tận Tạng Giới. Thời gian nói KinhPhạm Võng tuy sớm hơn Kinh Anh Lạc, nhưng địa điểm phóng quang trước khi nói kinh thì giống nhau. Kinh Phạm Võng cũng trước phóng quang minh, kế nói về ngôi vị của Bồ tát, rồi đến quyển hạ nói điều văn giới tướng của 10 trọng, 48 khinh. Chỗ không đồng nhau là Kinh Anh Lạc không có phương pháp thọ giới, nhưng Anh Lạc và Phạm Võng vẫn còn nhiều chỗ đồng nhau.

Phạm Võng Giới Kinh là một loại Bồ tát Giới Kinhđược lưu thông rộng rãi ở Trung Quốc hơn hết. Nhưng đối với vấn đề chân ngụy của Phạm Võng là việc đã có từ xưa, các nhà kinh lục cựu thời đã đem PhạmVõng liệt vào loại nghi phẩm. Theo bài tựa Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới nói: “Kinh này gồm có 112 quyển, 61 phẩm”. Trong Bồ Tát Giới Bổn Sớ quyển 1 của Đại sư Pháp Tạng nói: “Nếu luận về bản đầy đủ, Ngài La Thập tương truyền, nói Tây Vức có 61 phẩm 10 vạn bài tụng, dịch đủ thành 300 quyển”. Vì Đại Bộ của Kinh Phạm Võng 2 quyển thượng, hạ của Trung Quốc là do Ngài Tam Tạng La Thập miệng tụng phẩm thứ 10 là phẩm Bồ Tát Tâm Địa Pháp Môn của toàn bộ Kinh Phạm Võng. Nhưng văn tự của quyển thượng rất khó giải thích, văn của bài tựa và hậu ký cũng có khả nghi, điều văn giới tướng cũng rất khó hiểu, đến nỗi bị các học giả cho là người Trung Quốc ngụy tạo. Tuy nhiên đây là một bộ Bồ Tát Giới Kinh rất được hoan nghinh, vì thế trải qua nhiều thời đại có nhiều sự tranh luận. Thời gần đây, Đại sư Thái Hư cũng có một bài “Phạm Võng Kinh và Thiên Bát KinhQuyết Ẩn”, Ngài cho rằng: “Văn tự của Kinh Phạm Võng quyển thượng nói về Thập phát thú, Thập địa cùng với nửa quyển thứ 7 đến quyển thứ 9 của Kinh Đại thừa Kim Cương Tánh Hải Mạn Thù Thất Lỵ Thiên Tý Thiên Bát Đại Giáo Vương nói về 40 tâm vị thập phát thú v.v… văn tự rõ ràng hơn và ý nghĩa đồng với phẩm Tâm Địa của Kinh Phạm Võng quyển thượng”, và Ngài nói: “Chỗ nói Kinh Phạm Võng 112 quyển hoặc Kinh Thiên Bát để chứng minh có Phạn văn căn cứ, thì có thể bỏ được cái ý kiến nghi nó là ngụy tạo”. Đây là kiến giải chủ trương KinhPhạm Võng là chân thật chứ không phải ngụy. Nhưng theo ý kiến của Pháp sư Tục Minh lại có một lối nhìn riêng, Ngài nói:”Do nơi văn của bài tựa và hậu ký có nhiều dấu tích giống nhau, dường như không phải của Ngài Tăng Triệu viết, cho nên có người nghi kinh này không phải do Ngài La Thập dịch, lại nghi bài tựa không phải do Ngài Tăng Triệu viết, do nghi bài tựa nên càng nghi kinh!”. Lại nói: “Kinh Phạm Võng quyển thượng, xét về văn tự cùng với các kinh sách do Ngài La Thập phiên dịch không hợp, tra cứu lại thì thấy có một đoạn văn nghĩa tương đồng với Kinh Thiên Bát ĐạiGiáo Vương dịch vào đời Đường. Nhưng vì ngoài hai kinh ấy ra còn thiếu những chứng cứ khác, nên khó luận đoán như thế nào” (xem Giới Học Thuật Yếu). Căn cứ vào sự khảo chứng của Pháp sư Tục Minh, Ngài nhận rằng văn bài tựa và hậu ký của KinhPhạm Võng là có vấn đề. Kinh văn quyển thượng cũng chẳng phải là của Ngài La Thập dịch, và suy đoán theo hình thức, Ngài cho rằng Kinh Phạm Võng chắc chắn cũng có căn cứ của Đại Bổn, đồng thời Ngài cũng nói: “10 trọng 48 khinh của Phạm Võng giới không phải như tương truyền nói là một phần của phẩmTâm Địa Pháp Môn, mà từ trong các phẩm của Đại Bổn trích ra”. Một phát minh này rất đáng quý!

Tôi cũng muốn bổ sung vào một chút ý kiến: Đoạn trước đã nói, chỗ tương đồng của Phạm Võng và Anh Lạc rất nhiều, cả hai đều là đốn lập giới, đều ở tại nước Ma Già Đà gần Bồ đề đạo tràng, một lúc nói ra đồng là nói 10 điều giới trọng như nhau. Vậy chúng ta có thể tin rằng Kinh Phạm Võng của bản dịch hai quyển là do chịu ảnh hưởng hình thức của Kinh Anh Lạc và phụ thêm vào quyển thượng của bản một quyển. Lại, nhân trong quyển hạ Kinh Phạm Võng đối với tên gọi chung có 42 vị Hiền thánh Bồ tát là Thập phát thú, Thập trưởng dưỡng, Thập kim cương, Thập địa, là dùng một bộ phận của Kinh Thiên Bát làm quyển thượng của Kinh Phạm Võng. Nhưng ở đây cũng có vấn đề là Kinh Phạm Võng của bản hai quyển Lịch Đại Tam Bảo Kỷ của Phí Trường Phòng (Đời Tuỳ, niên hiệu Khai Hoàng năm thứ 17) đã có rồi. KinhThiên Bát do Tam Tạng Bất Không đời Đường dịch ra, điều này trên thời gian bị đảo ngược, cũng có thể cho rằng Kinh Thiên Bát hoặc đồng một tính chất của bản chữ Phạn đã đến Trung Quốc sớm hơn.

Ngoài ra, Pháp sư Tục Minh còn cho rằng Phạm Võng giới có thể do từ trong tác phẩm của Đại Bổn trích ra, đây là thường lệ của giới Thanh văn. Như tôi thấy trong Ưu bà tắc Giới Kinh của Đại thừa giới: Sáu giới trọng và 28 giới khinh đều tập trung vào một phần của phẩm Thọ Giới, đủ thấy hình thức của luật Đại thừa và luật Thanh văn có chỗ bất đồng, vì thế đây là vấn đề còn đợi nghiên cứu. Đồng thời, 10 điều giới trọng của Kinh Anh Lạc cũng là nói một cách tập trung chứ không phải giải thích.

Nhưng mặc dầu như thế nào, tính tồn tại và tính chân thật của Bồ Tát giới là điều không thể phủ nhận. Bồ Tát giới tại Tây Vức cũng đã sớm lưu hành, nhưng trong Bồ Tát Giới Bổn Sớ của Pháp Tạng nói: “Lại nghe ở Tây Vức, các chùa Tiểu thừa lấy Ngài Tân Đầu Lô làm Thượng tọa, các chùa Đại thừa lấy Ngài Văn Thù Sư Lợi làm Thượng tọa, khiến đại chúng đều trì Bồ Tát giới, yết ma thuyết giới đều tác Bồ Tát pháp sư, Luật tạng thường tụng không dứt”.

2. Loại Du già

Trong loại Du già bao quát ba loại: Du già, Địa Trì,Thiện Giới. Ba loại giới bổn này đều là cùng một phẩm của Luận Du Già Sư Địa, nhưng có nhiều bản dịch khác nhau, cùng có thể do lối nhìn của dịch giả bất đồng hoặc do bản Phạn các Ngài thấy bất đồng, vì thế mà có tường tận hay giản lược, hoặc thiên trọng hay thiên khinh bất đồng. Tuy nhiên, lai lịch loại Du già này không thể hoài nghi, chỗ bất đồng lớn nhất của loại Du già và loại Anh Lạc, Phạm Võng là duyên khởi và sự tổ thành của Giới Kinh. Anh Lạc, Phạm Võng là do chính miệng Phật nói ra, còn cuối Du già GiớiBổn có nói về loại Du già như sau: “Các việc khởi ra như thế này: Bồ tát học xứ (giới) trong các Kinh Phật đã tùy cơ rải rác tuyên nói, đó là y luật nghi giới, Thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu tình giới, nay nói Luận Bồ Tát này là nói tổng hợp”. Nói một cách khác, loại Du già là do Bồ Tát Di Lặc căn cứ vào các kinh Phật nói rải rác những gì quan hệ đến bộ phận của giới luật góp nhặt biên tập thành. Vì thế, đồng là Bồ Tát giới của Phật nói, loại trước trực tiếp hình thành, loại sau gián tiếp biên thành. Đây chỗ không đồng nhau ở trên nguyên nhân thành lập, nhưng vẫn đều là Bồ Tát giới Phật nói.

3. Loại Ưu bà tắc Giới

Đây là do trưởng giả Thiện Sanh cầu Phật, hỏi pháp, rồi do chính miệng Phật nói ra, gồm có 7 quyển 28 phẩm, rất hợp với căn khí của người tại gia cho đến ngoại đạo đương thời. Đây là một bộ kinh điển rất hay, lịch trình từ một người tục mới phát tâm tin Phật thẳng đến thành Phật đều được chỉ dẫn kỹ càng. Nhưng từ trên nhân duyên thọ giới, đắc giới mà nói, thì đây là một thứ Đại thừa giới rất khó thọ, khó đắc.

 

 

....................................

 

Chương 3. Giới Trọng Và Giới Khinh Của Bồ Tát Giới

 

I. SAO GỌI LÀ GIỚI TRỌNG VÀ GIỚI KHINH?

Sự phân biệt của giới trọng và giới khinh là ở sự bất đồng của “căn bản” và “chủng loại”, hoặc sự bất đồng của “tánh tội” và “giá tội”. Căn bản của tất cả giới gọi là căn bản giới như: Sát sinh, trộm cướp, dâm dục, vọng ngữ, là căn bản của tất cả giới. Từ trên mỗi một thứ căn bản sinh ra các tiểu giới đồng loại, gọi là Chủng loại giới, tỷ như đánh chúng sinh là chủng loại của giới sát, làm tổn tài vật của người là chủng loại của giới trộm cướp, xúc chạm người khác phái là chủng loại của giới dâm, nói lời vô vị là chủng loại của giới vọng ngữ. Tuy phạm loại tương tự sát sinh, trộm cướp, dâm dục, vọng ngữ mà chưa đạt đến trình độ tội đã thành của sát sinh, trộm cướp, dâm dục, vọng ngữ, bất luận thọ giới hay không thọ giới, hễ tạo thành sự thật đều là một thứ tội ác; vị lai nhất định bị quả báo, vì bản tánh của nó là tội hạnh, là chánh nhân của nghiệp báo, vì thế gọi là Tánh tội. Lại, nếu không cố gắng hết sức cứu độ chúng sinh, người không thọ Bồ tát giới không kể là phạm giới, không có tội. Người thọ Bồ tát giới rồi, do sự quy định trong giới, không đem sức cứu hộ chúng sinh thì có tội, vì thế gọi là Giá tội.

Lại như người không thọ Bồ tát giới không học kinh luật Đại thừa thì không có tội, còn người thọ Bồ tát giới rồi không thể không học kinh luật Đại thừa, đây là ngăn cấm không được như thế, vì thế gọi là Giá giới.

Công đức của thọ giới, trì giới rất lớn. Thọ giới mà không trì giới, tội lỗi cũng rất lớn. Có thưởng có phạt là lý tất nhiên. Thọ trì một giới có công đức một giới, phạm phá một giới cũng có tội lỗi của phạm phá một giới. Công đức thọ trì giới trọng lớn, tội lỗi của phạm phá giới trọng là rất lớn. Vì thế, trước và sau khi thọ giới, chúng ta nhất định phải nhận thức rõ ràng về nội dung của giới trọng giới khinh.

Đến như xưng danh của giới trọng, giới khinh, các loại bổn đều riêng có xưng hô bất đồng. Nói về giới trọng, Kinh Anh Lạc gọi 10 điều giới trọng là “Thập bất khả hối”, Kinh Phạm Võng gọi là “Ba la di”, Du Già GiớiBổn gọi là “Tha thắng xứ”, Ưu bà tắc Giới Kinh gọi 6 điều giới trọng là “ Lục trọng pháp”.

Nói về giới khinh, Kinh Phạm Võng gọi là “khinh cấu”, Kinh Địa Trì gọi là: “Đột kiết la”, Du già dịch là Ác tác”, cũng gọi là “Vi việt”, Ưu bà tắc Giới Kinh gọi là “Thất ý tội”.

Đây là những danh xưng căn cứ vào cộng dụng của giới tội và phần lượng của tánh tội mà lập ra, danh xưng tuy khác nhau nhưng tội được chỉ định là một. Kinh Anh Lạc nói: “Thập trọng có phạm không có hối”; phạm giới khinh: “Được cho hối quá đối thú hối diệt tội”. Phạm 10 giới trọng không có phương pháp sám hối trừ tội, vì thế gọi là bất khả hối. Phạm giới trọng như người bị chặt đầu không thể dùng thứ thuốc nào của Phật pháp cứu trị được, vì thế gọi là tội Đoạn đầu. Ba la di dịch từ âm chữ Phạn: Pàràjika, nghĩa là Đoạn đầu. Phạm giới trọng tức là bị pháp đối địch của người bên ngoài chiến thắng, vì thế gọi là Tha thắng xứ.

Phạm giới khinh gọi là tội nghiệp cấu, so với giới trọng nhẹ hơn, vì thế xưng là khinh cấu. Đột kiết la dịch âm từ chữ Phạn: Duskurta nghĩa lá ác tác hoặc ác thuyết. Phạm giới khinh là chống trái và vượt ra phạm vi tâm hạnh của người tu trì, vì thế gọi là “vi việt”. Phạm giới khinh là do vọng niệm gây ra, trái với ý nguyện của người thọ giới tu trì, vì thế gọi là “Thất ý”.

II. NỘI DUNG CỦA GIỚI TRỌNG

Từ trên bản chất và nguyên tắc, căn bản giới của Đại thừa, Tiểu thừa tương đồng. Từ trên cấp độ và tác dụng, căn bản của Đại thừa và Tiểu thừa có sai biệt. Bốn giới căn bản lớn của Tiểu thừa Thanh văn là sát sinh, trộm cướp, dâm dục, vọng ngữ. Mười giới trọng lớn của Đại thừa Bồ tát bao hàm sát sinh, trộm cướp, dâm dục, vọng ngữ. Đây là chỗ đồng và khác của Đại thừa, Tiểu thừa. Điểm xuất tương đồng, trên hiệu dụng bất tương đồng.

Trong 6 loại giới bổn của Đại thừa Bồ tát giới, đối với sự trình bày và sắp xếp điều mục giới trọng cũng đều riêng có sai biệt. Kinh Anh Lạc và Kinh Phạm Võng có 10 điều giới trọng đồng nhau, Du Già Giới Bổn có 4 điều, KinhĐịa Trì có 4 điều, Thiện Giới Kinh có 8 điều, Ưu bà tắc Giới Kinh có 6 điều. Nhưng bất luận 4 điều, 6 điều, 8 điều đều ở trong phạm vi 10 điều. Nay đem giới mục giới trọng của 6 loại giới bổn liệt kê đối chiếu như sau: (trang bên)

Nội dung của giới trọng Bồ tát giới là Nhiếp luật nghi giới của tam tụ tịnh giới, tuy chỉ có 10 điều mà thật đã bao quát tất cả luật nghi giới.

Từ đây trở xuống chúng tôi lấy Phạm Võng Bồ tát GiớiBổn làm đối tượng giới thiệu chủ yếu nghiên cứu đến các loại Bồ tát Giới bổn khác.

Mười điều giới trọng của Bồ tát giới được phân ra là thuộc về ba loại thân, miệng, ý. Trong Tiểu thừa giới, thân miệng phạm giới có tội, tâm ý phạm giới vô tội, tâm ý phạm giới cũng không thành phạm giới. Thế nên đã chẳng phải lấy ý nghiệp làm giới khinh, cũng không lấy ý nghiệp làm giới trọng. Nhưng trong Đại thừa giới chẳng những tâm ý vi phạm là có tội, thậm chí còn liệt vào tội nặng.

Thật ra, hai nghiệp thân miệng thành tội hạnh, chủ yếu là do dự mưu kế hoạch và sự thao túng của ý nghiệp; do sự phát động của ý nghiệp mà thành hai nghiệp thân miệng có ác có thiện và cũng có không ác không thiện. Trong giới hiện tại ngăn cấm là ý thuộc về nghiệp ác, đó là ba độc tham, sân, si, rất nổi tiếng và rất đáng sợ. Mười giới trọng của Bồ tát có thể khái quát làm ba nghiệp, ba nghiệp có thể quy nạp vào một ý nghiệp bị tam độc thống trị.

Đây là từ trọng tâm của 10 giới trọng phân biệt, nếu phân tích kỹ càng thì trong mỗi giới đều có thành phần của ba nghiệp. Hiện tại muốn dễ hiểu nên phân tích đại khái như sau:

Nhìn trên biểu đồ này, sự sinh ra 10 giới trọng của Bồ tát giới chỉ vì mỗi nguyên nhân, đó là đối phó với ý nghiệp làm ác mà điều phục tam độc làm hại. Chúng sinh chúng ta sở dĩ bị trầm luân trong biển sinh tử của lục đạo, mê mộng trong đêm dài triền miên cũng là ý nghiệp bất thiện mà bị tam độc làm hại.

Phương pháp phạm giới của 10 điều giới trọng phân làm ba loại: có loại tự,mình đối với người khác mà phạm, có loại chính mình đối với mình mà phạm, có loại người khác đối với mình mà phạm.

Đối tượng phạm giới của 10 điều giới trọng phân làm hai loại: một là hữu tánh, hai là loại phi tánh.

Căn cứ vào phương pháp và đối tượng của sự phạm phá 10 điều giới trọng có thể liệt vào biểu đồ như sau:

 

Biểu đồ này cần phải nói thêm cho rõ:

Phạm giới đắc tội đều là do làm cho chúng sinh khác bị tổn hại hoặc phiền não mà ra, vì thế phương pháp phạm giới chủ yếu của 10 điều giới trọng là tự mình đối người phạm. Nhưng cũng có 5 điều là có thể mình đối với chính mình phạm, tỷ như chính mình giết mình là phạm giới sát; có người thân thể mềm mại có thể dùng miệng nút sinh thực khí của chính họ để được khoái lạc thì phạm giới dâm; ba điều là xan tham, giận hờn và phỉ báng Tam bảo, so theo đây có thể biết. Người khác đối mình phạm chỉ có một điều giới dâm, lúc nhập, đã xuất, xuất ra, chỉ cần sinh khởi tâm cảm thọ một niệm khoái lạc dâm dục thì kể là phạm giới.

Đối tượng của sự phạm giới vốn lấy chúng sinh hữu tình làm đối tượng chủ yếu của sự đắc tội. Nhưng có ba điều có thể từ trên sự thật phi tình đắc tội, tỷ như gian dâm với thây chết chưa hoại; đã là thây chết thuộc về vật thể phi tình không có tri giác, nhưng vẫn có thể ở trên thây chết chưa hoại để đạt đến mục đích thọ lạc của việc hành dâm. Vì thế trên vật phi tình đắc tội trọng của phạm giới dâm. Hai điều giới: cố giận hờn và phỉ báng Tam bảo, có thể theo đây suy ra mà biết.

Nhưng đối với sự giải thích điều văn giới trọng, vì không có Kinh Phạm Võng của Đại Bổn làm căn cứ nên nhà chú sớ từ xưa đến nay phần nhiều không có được quan niệm thống nhất. Từ trên đại thể nói, các bản chú sớ Kinh Phạm Võng của các nhà chia làm hai phái Tân và Cựu, Cựu sớ lấy Bồ tát Giới Sớ của Đại sư Trí Giả tông Thiên Thai là chủ yếu, các chú sớ của Ngài Minh Khoáng đời Đường, Liên Trì, Ngẫu Ích, Hoằng Tán cuối đời Minh đều thuộc một hệ Cựu sớ.

Tân sớ thì lấy Bồ tát Giới Bổn Sớ của Đại sư Hiền Thủ Pháp Tạng làm đầu; Nghĩa Tịch Sớ, Thái Hiền CổTích Ký đời Đường đều là hệ Tân sớ. Điểm bất đồng lớn nhất của Tân sớ và Cựu sớ là sự phân biệt đối với điều văn của 10 điều giới trọng. Cựu sớ đại thể lập luận theo Thanh văn giới, cho rằng chỗ chỉ trong điều văn của điều giới trọng có trọng cũng có khinh, nói khinh để so với trọng, tỷ như giết người phạm tội trọng, giết chúng sinh dị loại phạm tội khinh; trộm 5 tiền trở lên phạm tội trọng, trộm 5 tiền trở xuống phạm tội khinh, đại vọng ngữ phạm tội trọng, tiểu vọng ngữ phạm tội khinh. Nhưng theo Tân sớ mà nói, cho rằng giới trọng của Bồ tát giới trọng hơn Thanh văn, vì thế “cho đến loài vật có sinh mạng cũng không được cố giết”, “cho đến vật của quỷ thần, vật có chủ, vật của kẻ trộm cướp, tất cả tài vật: một cây kim, ngọn cỏ không được cố trộm”, “Cho đến thấy nói không thấy, không thấy nói thấy, thân tâm vọng ngữ”, nếu phạm đều đắc tội Ba la di.

Duy nói theo thông thường, phần nhiều lấy Cựu sớ làm chuẩn, nhân vì Du già Giới Bổn khai có 7 chi nhánh tội, Kinh Văn Thù Vấn thì cho rằng hễ khởi tâm niệm sát sinh, trộm cướp, dâm dục vọng ngữ đều phạm giới Bồ tát Ba la di tội. Hai đàng nói khác nhau, đó là theo hàng Bồ tát Thánh vị mà nói, chứ hàng Bồ tát mới phát tâm quyết khó làm đến trình độ này. Nếu không như vậy thì cơ hội Bồ tát phạm tội trọng thật rất nhiều. Nhưng cũng nên lấy quan điểm của Tân dịch là sợ hãi để cảnh giác, vì từ trước đến nay chúng ta không có một người hiểu rõ một cách đúng đắn về điều văn của giới Phạm Võng chỉ dạy với ý nghĩa gì.

Đến số điều giới trọng của các loại Bồ tát Giới Bổn tại sao có nhiều có ít? Điều này ở trong Bồ tát Giới BổnSớ của Đại sư Pháp Tạng có nói như vầy: trong Kinh Phạm Võng này vì lý do là thất chúng đệ tử cùng chung thọ trì, vì thế nên nói cụ thể 10 điều giới trọng. Kinh Thiện Sanh đặc biệt nói cho hai chúng đệ tử tại gia, vì thế đem 6 điều trước của 10 điều giới trọng làm giới trọng. Lại vì người tại gia đối với tội lỗi, tội hạnh của bán rượu cho người và nói lỗi tứ chúng đặc biệt dễ phạm đến, vì thế ngoài 4 giới trọng căn bản ra, còn thêm hai điều giới này, thành 6 điều giới trọng. Bốn điều giới sau trong 10 giới trọng, sự phạm tội của người tại gia nhẹ hơn, vì thế không chế làm giới trọng của người tại gia. Nhưng 4 điều sau đối với người xuất gia tội lỗi thiên trọng. Hai điều thứ 5 và thứ 6 đối với người xuất gia không quá nghiêm trọng, vì thế Địa Trì và Du già Giới Bổn chỉ liệt bốn điều sau làm giới trọng.

Lại vì trong 10 điều giới trọng, 4 điều trước đối Đại thừa, Tiểu thừa đều là giới trọng. Hai điều thứ 5 và thứ 6 đối với người tại xuất gia đều là giới trọng. Bốn điều sau chót chỉ có Đại thừa Bồ tát mới thành giới trọng.

Đó là sự giải thích của Đại sư Pháp Tạng nhưng tôi còn thấy có một ý kiến bổ sung. Bởi vì Anh Lạc và Phạm Võng thuộc Đốn lập giới, vì thế trừ giới mục đặc biệt của Bồ tát ra, còn phải liệt vào giới mục căn bản hoặc cơ sở chung cho cả thất chúng, do đó thành 10 giới. Du Già, Địa Trì là tiệm thứ giới, là đã thọ qua cộng thông giới của cơ sở thất chúng, vì thế chỉ nêu bốn giới sau của Bồ tát đặc biệt thiên trọng là đủ. Đến Ưu bà tắc Giới Kinh tuy cũng thuộc về tiệm thứ giới nhưng trong đó có nói rõ: “Ưu bà tắc là căn bản của Sa di thập giới. Đại Tỳ kheo giới, Bồ tát giới cho đến A nậu đa la tam miệu tam bồ đề”. Nhân vì đây là căn bản của tất cả giới, vì thế phải liệt kê bốn giới căn bản trước, lại vì là Đại thừa giới nên phải thêm hai điều thứ 5 và thứ 6 làm giới trọng. Sáu giới trọng của Ưu bàtắc Giới Kinh thêm vào 4 giới trọng của Du già Giới Bổn vừa vặn thành 10 điều giới bổn của Anh Lạc và Phạm Võng. Đến như giới trọng của Thiện Giới Kinh là 4 điều trước thêm 4 điều sau thành 8 điều cũng công nhận rằng đúng như lời Đại sư Pháp Tạng nói: “Hai điều thứ 5 và thứ 6 đối với người xuất gia không nghiêm trọng lắm”. Vì thế trong ba loại giới bổn: Du Già,Địa Trì và Thiện Giới Kinh tại sao lại đem 4 điều trước liệt vào thành 8 điều thì không được biết, cũng có lẽ đây là do ý của người dịch chăng?

III. NỘI DUNG CỦA GIỚI KHINH

Nội dung của giới khinh của Bồ tát cũng là Nhiếp thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu tình của Tam tụ tịnh giới. Đây cũng là từ trên phần đại thể, nếu luận kỹ, bất luận giới trọng giới khinh, mỗi giới đều nhiếp vào thành phần của Tam tụ tịnh giới.

Căn cứ vào Bồ tát Giới Bổn Sớ của Ngài Nghĩa Tịnh nói: Kinh Anh Lạc nói Nhiếp luật nghi giới là 10 Ba la di, Nhiếp thiện pháp là 9 vạn 4 ngàn pháp môn, Nhiếp chúng sinh giới là từ, bi, hỷ, xả. Lại nói: “Trong 48 giới khinh của Phạm Võng, 30 giới trước phần nhiều là nhiếp thiện, 18 giới sau phần nhiều là lợi sinh”. Đây cũng là từ trên phần đại thể mà nói. Vì về Bồ tát giới, điều văn của Phạm Võng Bồ tát Giới là đặc biệt hơn hết, trong giới trọng có thành phần của giới khinh, trong giới khinh có thành phần của giới trọng, cho đến trong điều văn của một điều của giới cũng bao quát nhiều loại và ý tứ không nối tiếp quán thông. Vì thế, phân loại nhất định như thế nào thật là điều rất khó.

Căn cứ vào sự nghiên cứu của Đại sư Pháp Tạng thì Phạm Võng Giới Kinh trong khinh có mang trọng và trong một gồm có nhiều, nay nêu ra như sau:

A. Trong khinh mang trọng, có 6 điều:

1. Điều thứ 11, trong giới đi thông sứ mạng cho hainước hiệp hội quân trận có hai điều khinh trọng: Vì người làm sứ đưa tin, phạm tội khinh; nhân đây hai bên đánh giết nhau, phạm tội trọng sát sinh.

2. Điều thứ 14, trong giới phóng hỏa thiêu đốt làm tổn hại tài vật, gồm có hai điều khinh trọng: Thiêu đốt là phạm giới khinh, tổn hại tài vật của người thì phạm giới trọng trộm cướp.

3. Điều thứ 17, trong giới cậy thế lực quyên tởi gồm có hai điều khinh trọng: Cậy thế lực quan quyền, phạm giới khinh; cưỡng lấy tài vật của người, phạm giới trọng trộm cướp.

4. Điều thứ 25, trong giới tri chúng vụng về gồm có điều khinh trọng: Làm tri chúng vụng về, phạm giới khinh; tổn thất tài vật của Tam bảo, phạm giới trọng trộm cướp.

5. Điều thứ 30, trong giới trái với cấm giới, làm điều quấy, gồm có hai điều khinh trọng: Giả tuồng kính mến, phạm giới khinh; tự mình huỷ báng Tam bảo, phạm giới trọng.

6. Điều thứ 32, trong giới chứa điều phi pháp gồm có hai điều khinh trọng: Chứa cân non, giạ thiếu, phạm giới khinh; lấy tài vật của người, phạm giới trọng trộm cướp.

B. Trong một có nhiều, gồm 10 điều:

1. Điều thứ 12, trong giới buôn bán có 3 điều: 1. Bán người lành, 2. Bán tôi tớ, lục súc, 3. Bán quan tài, ván cây để đựng thây người chết.

2. Điều thứ 20, trong giới không cứu hộ sinh mạng có 2 điều: 1. Cứu sinh mạng khỏi bị giết, 2. Ngày người thân chết, giảng pháp để cứu khổ cho người chết.

3. Điều thứ 23, trong giới khinh người mới cầu học có 2 điều: 1. Oai nghi thọ giới, 2. Pháp sư ỷ thị, mình hiểu kinh luật Đại thừa và kết bạn với quốc vương v.v… không đáp lời hỏi của tân học Bồ tát.

4. Điều thứ 29, trong giới làm nghề ác tổn hại chúng sinh có 6 điều: 1. Buôn bán nam sắc, nữ sắc, 2. Tự tay làm đồ ăn, tự xay tự giã, 3. Xem tướng bàn mộng, 4. Bùa chú phép thuật, 5. Phương pháp nuôi ó, 6. Hòa hợp thuốc độc.

5. Điều thứ 30, trong giới trái với cấm giới làm quấy có4 điều: 1. Phỉ báng Tam bảo, 2. Làm mai mối cưới gả, 3. Sáu ngày trai mỗi tháng, ba tháng trường trai mỗi năm sát sinh, 4. Tâm tưởng đến trộm cướp.

6. Điều thứ 32, trong giới chứa đồ phi pháp, có 6 điều: 1. Chứa dao, tên v.v…, 2. Chứa cân non, giạ thiếu, 3. Ỷ vào thế lực lấy tài vật của người, 4. Ác tâm trói buộc người, 5. Phá hoại thành công của người, 6. Nuôi mèo, chồn, heo, chó.

7. Điều thứ 33, trong giới xem nghe làm ác có năm điều: 1. Không được xem đấu chiến nhau, 2. Không được cố nghe âm nhạc, 3. Không được đi xem hát, 4. Không được bói xủ, 5. Không được làm tay sai cho kẻ trộm cướp.

8. Điều thứ 37, trong giới cố vào chỗ có nạn, có 3 điều: 1. Đầu đà, 2. Bồ tát, 3. An cư mùa Hạ, mùa Đông phải đúng như pháp, không vào chỗ có nạn.

9. Điều thứ 39, trong giới nên giảng hay không giảng có hai điều: 1. Giáo hóa người kiến lập chùa tháp, tăng phòng, 2. Dạy khi gặp nạn nên giảng thuyết kinh luật Đại thừa.

10. Điều thứ 40, trong giới thọ giới không đúng nghi thức có điều: 1. Oai nghi thọ giới, 2. Tăng không lạy tục.

Từ trong 16 điều của hai loại lớn: Trong khinh mang trọng và trong một gồm nhiều này, chúng ta có thể biết giới khinh của Phạm Võng tuy chỉ có 48 điều, kỳ thật cộng chung có 79 giới. Xin hãy đếm xem: trong 6 điều “mang trọng” thành 12, trong 10 điều “gồm nhiều” thành 35, và 32 điều thành lập đơn độc, tổng cộng lại không phải là 79 giới sao? Nếu cộng 10 giới trọng vào thì thành 89 giới tướng khinh trọng của Kinh Phạm Võng.

Giới khinh rốt cuộc có bao nhiêu điều, căn cứ theo Đại sư Pháp Tạng có 10 thứ nội dung bất đồng như sau:

1. Du già có 44 giới.

2. Hai kinh Địa Trì, Thiện Giới tuy có hơi thêm bớt, nhưng vẫn đồng với Du già.

3. Bồ tát Nội Giới Kinh có 42 giới.

4. Kinh Thiện Sanh (Ưu bà tắc Giới) trừ 6 điều trọng ra, riêng có 28 giới khinh.

5. Kinh Phương Đẳng trừ 24 thứ giới ra còn có 25 thứ chế không nên làm.

6. Kinh Phạm Võng có 48 giới.

7. Nếu tìm kỹ nội dung văn tự giới kinh của PhạmVõng, hoặc trong một giới có nhiều thứ giới, luận chung gần một trăm giới.

8. Như Phạm Võng dẫn văn trong phẩm “Bát Vạn Oai Nghi nói”, thì có 8 vạn thứ giới.

9. Theo như Nhiếp Luận, bản dịch đời Lương dẫn Kinh Tỳ Nại Da Cù Sa La nói Bồ tát giới có 10 vạn thứ sai biệt.

10. Nếu theo Luận Trí Độ nói, ít thì có 8 vạn, nhiều thì có số như trần sa (cát bụi).

Ngoài ra còn thấy Kinh Dược Sư nói “Bồ tát 400 giới”, nhưng chưa thấy nêu ra điều mục của 400 giới.

Trên thực tế, nội dung của Bồ tát giới bao gồm tất cả, không thể dùng chữ số điều văn để liệt kê, nếu có phạm vi để liệt kê thì thành hữu hạn, chẳng thể xứng danh tánh, như lý. Nội dung của Bồ tát giới phải vô cực, vô hạn. Vì thế, Luận Trí Độ phải nói: “Nhiều như số cát bụi”, là lý này vậy. Điều văn nêu ra trong các loại giới kinh chỉ là thô, là thiết yếu, là hiển, là nêu đại cương mà thôi. Vì thế, chúng ta chẳng cần nghiên cứu theo cách so sánh nội dung các điều văn và vấn đề giới mục nhiều ít, mà chỉ cần các điều văn này là tâm hạnh của Bồ tát mới phát tâm phải y theo làm cho đúng không được xao lãng, không được không học. Để tiện cho độc giả tham khảo, nay đem giới mục giới khinh của năm loại giới bổn liệt vào biểu đồ đối chiếu như sau: au:

 

 

 

.......................................
 

Chương 4. Truyền Thọ Và Điều Kiện Của Bồ Tát Giới

 

I. KHỞI NGUYÊN CỦA GIỚI PHÁP BỒ TÁT

Kinh Phạm Võng là nhân Phật vì Diệu Hải Vương và một ngàn người Vương tử thọ giới pháp Bồ Tát mà ra. Đây là pháp thọ giới Bồ Tát trước nhất. Chúng ta ở nhân gian có giới bổn này là do Bồ Tát Xá Na, sau khi tu hành giới này rồi thành Phật ở trong thế giới Liên Hoa Đài Tạng; vì muốn lợi lạc tất cả chúng sanh nên chính mình đem giới bổn tụng ra truyền thọ cho Hóa thân Phật. Đức Thế Tôn Thích Ca xuất hiện ở địa cầu này là một trong thiên bá ức Hóa thân Phật của Xá Na, do Hóa thân Phật tùy theo cơ nghi chúng sinh ở thế giới này phương tiện tụng ra.

Tại Ấn Độ, Bồ tát bắt đầu thọ giới từ lúc nào và cách thọ như thế nào, không làm sao tra cứu được! Theo truyền thuyết, Đức Thích Ca truyền cho Ngài Di Lặc, Ngài Di Lặc truyền xuống cho hơn 20 vị Bồ tát lần lượt truyền nhau, rồi do pháp sư La Thập truyền sang Trung Quốc. Pháp truyền thọ Bồ tát giới ở Trung Quốc gồm có hai dòng chính:

- Dòng thứ nhất là Phạm Võng Bồ Tát Giới của Ngài Cưu Ma La Thập, song chỉ tụng ra hai quyền (?),đương thời hơn 800 người như Sa môn Huệ Dung, ĐạoTường v.v… thỉnh pháp sư La Thập truyền thọ Bồ tát giới. Kinh này là Kinh sau rốt trong số các Kinh luật do Ngài La Thập dịch.Ngài tụng kinh này ra, Đạo Dung v.v…bút thọ, không giống như sự phiên dịch các kinh luận khác của Ngài là:”Ngài tay cầm quyển chữ Phạn, miệng dịch kinh văn”.Chính vì không có bổn chữ Phạn mà chỉ do Ngài La Thập tụng, để tự bút thọ,nên khiến cho người đời nghi là kinh ngụy tạo. Kinh này sau khi tụng ra chưa kịp tu đính.nhuận sắc và hoằng dương,thì Ngài La Thập qua đời.Toàn bộ nghi thức truyền thọ Bồ Tát giới đương thời đã sớm thất lạc, cho nên cũng rất khó khảo cứu tân tường.

- Về Đại Bổn của Kinh Phạm Võng chưa được truyền đến Trung Quốc,trải qua nhiều đời có tương truyền một sự tích.Theo truyền thuyết,lúc Ngài Tam Tạng Chân Đế từ Ấn Độ sang Trung Quốc có mang theo bổn Phạn văn của một bộ Đại Bổn Phạm Võng,nhưng thuyền đi trên biển Nam Hải chở nặng quá muốn chìm, Ngài ném bớt đồ trên thuyền xuống mà thuyền vẫn còn muốn chìm,sau cùng Ngài phải ném bộ Phạm Võng Bồ Tát Luật Bổn thuyền mới nổi lên và tiếp tục hành trình. Nhân đây Ngài than: “Đất Hán không có duyên với Bồ Tát giới luật, thật đáng buồn!”. Đây cũng là một vấn đề của Phạm Võng GiớiBổn, thực hư như thế nào không dược biết!

- Nhưng pháp truyền thọ của Phạm Võng Bồ Tát giới dường như một vị truyền cho một vị, vì thế chỉ nói Đức Thích Ca truyền A Dật Đa (Di Lặc), rồi truyền xuống hơn 20 vị Bồ tát lần lượt truyền nhau, rồi do Pháp sư La Thập truyền sang Trung Quốc.Điều này so với việc 800 người như Huệ Dung, Đạo Tường v.v…đồng thời hướng về Pháp sư La Thập cầu thọ Bồ Tát Giới dường như là bất đồng. Nhưng cũng không thể đoán định. Nói là A Dật Đa truyền lại hơn 20 vị Bồ Tát rồi do Pháp sư La Thập truyền sang Trung Quốc, cũng có thể là do tương truyền hơn 20 đời.

Dòng thứ hai là Bồ Tát Giới Bổn kinh của Tam Tạng Đàm Vô Sấm truyền dịch, đây cũng rút ra từ bộ Du già. Nhân vì nội dung của Bồ Tát Giới Bổn kinh này,như Đại sư Pháp Tạng nói: “Nay riêng lưu hành Địa Trì Giới Bổn, ở phần đầu có đặt bài kệ quy mạng”.

 Ở đây cũng có một sự tích, trong Bồ Tát Giới Sớ của Đại sư Pháp Tạng có thuật như vầy: “Lúc Tam Tạng Đàm Vô Sấm ở Tây Lương Châu, có sa môn Pháp Tấn v.v… đến cầu Đàm Vô Sấm truyền thọ Bồ Tát giới và thỉnh phiên dịch Giới Bổn…, Ngài nói: “Người nước này (Trung Quốc) tánh nhiều giảo hoạt, lại không tiết tháo, đâu có đủ sức làm pháp khí của đạo Bồ Tát”, bèn không truyền giới. Pháp Tấn v.v… cầu xin mãi không được nên ở trước tượng Phật lập thệ, khổ nhọc cầu giới, bảy ngày vừa mãn, mong thấy Đức Di Lặc đích thân truyền giới và giới bổn, Pháp Tấn đều tụng được,sau khi thức dậy liền đến gặp Đàm Vô Sấm. Thấy tướng của Pháp Tấn lạ, Đàm Vô Sấm khen: “Đất Hán cũng có người”, rồi dịch Giới Bổn một quyển cùng với Giới Bổn của Pháp Tấn tụng trong mộng,văn nghĩa đồng nhau”.

Nhưng trong truyện Đàm Vô Sấm của Lương Cao Tăng truyện quyển 2 lại thuật hơi khác, nay sao lục lại như sau để cùng tham khảo: “Ban đầu Sấm ở Cô Tàng, có Sa môn Trương Dịch, Đạo Tấn muốn thọ Bồ tát giới. Sấm nói: “Hãy sám hối!”. Tấn chí thành sám hối 7 ngày 7 đêm,ngày thứ 8 đến Sấm cầu thọ giới, Sấm bèn thình lình nổi giận,Tấn bèn suy nghĩ: “ Đó là nghiệp chướng của mình chưa tiêu”. Tấn gắng sức 3 năm tu chuyên tu thiền định, mộng thấy Đức Phật Thích Ca và các Đại sĩ truyền Bồ Tát giới cho mình,đêm ấy cùng với hơn 10 người cảm mộng như Tấn thấy. Tấn đến chỗ Sấm để nói, còn cách nhau mười bước, Sấm trông thấy, kinh ngạc, đứng dậy nói: “Lành thay, Lành thay! Đã cảm giới rồi, ta sẽ làm chứng cho ông”. Rồi Ngài ở trước tượng Phật nói giới tướng cho Tấn nghe:

Lương Cao Tăng Truyện cùng với Đại sư Pháp Tạng thuật có sai khác, nhưng có một sự thật rõ ràng là Đàm Vô Sấm làm chứng sư cho Sa môn đất Hán thọ giới Bồ tát.

Dòng pháp của Đàm Vô Sấm về sau lưu hành ở Trung Quốc rất rộng.Vì thế, Lương Cao Tăng Truyện quyển 2 nói tiếp: “Lúc ấy, Sa môn Đạo Lãng nổi tiếng ở Quan Tây, ngay đêm Tấn cảm giới, Lãng cũng chung mộng, nhưng tự ty giới lập nên cầu làm pháp đệ.Thuở đó hơn 1000 người từ Pháp Tấn thọ giới.Truyền thọ pháp này cho đến ngày nay đều bắt đầu từ Đàm Vô Sám:.

Nhân nay, trong Bồ tát Giới Sớ của đại sư Trí Giả nêu ra pháp thọ giới là Phạm Võng, Địa Trì, Cao Xương,Anh Lạc, Tân Soạn, Chế Chỉ. Trong 6 bổn pháp thọ giới này có 2 bổn quan hệ với Tam Tạng Đàm Vô Sấm, một là Địa Trì Bổn Thọ Giới Pháp, hai là Cao Xương Bổn Thọ Giới Pháp. Địa Trì Bổn là do Đàm Vô Sấm dịch, Cao Xương Bổn là do Ngài Tăng Tuân người Cao Xương của phái Đạo Tấn làm ra. Nam triều, cuối niên hiệu Nguyên Gia đời Tống Văn Đế có Pháp sư Huyền Sướng tuyên pháp truyền thọ Bồ tát giới đại khái tương tự với Cao Xương Bổn, gọi là Sướng Pháp Sư Bổn.Do đó đủ thấy, dòng Bồ Tát Giới do Ngài Tam Tạng Đàm Vô Sấm truyền ở Trung Quốc có lực lượng rất lớn mạnh.

Nói đến Kinh Địa Trì của Ngài Đàm Vô Sấm dịch khiến chúng ta tìm đến vấn đề lai lịch của Kinh Địa Trì và giới pháp của kinh này. Theo Giới Sớ của Đại sư Trí Giả thuật như sau: “Tương truyền Kinh Địa Trì là do Ngài Di Lặc thuyết,nguyên bổn là Phật Đăng Minh thuyết, Bồ Tát Liên Hoa Tạng thọ trì lần lượt thuyết hóa hơn 30 vị Bồ Tát, sau có Bồ Tát Y Ba Lặc ứng tích truyền hóa sang cõi này,nhưng Kinh Địa Trì do Ngài Đàm Vô Sấm dịch, nên nghi Ngài tức là Y Ba Lặc, trong phẩm thứ tư của Kinh Địa trì này có nói về thọ giới”.

Điều này cùng với đoạn trước nói Du Già Giới Bổn là do Bồ Tát Di Lặc biên tập những điều giới Phật nói tản mác trong kinh mà thành, dường như có thêm bớt. Nhưng Du Già và Địa Trì đồng xuất phát từ một nguồn, nên vấn đề Đàm Vô Sấm là vị Cao tăng đầu tiên tại Trung Quốc truyền thọ một hệ Bồ tát giới pháp của Địa Trì, và Bồ tát giới của hệ Đàm Vô Sấm tại Trung Quốc hình thành lực lượng rất lớn mạnh cũng là một sự thật, không cần phải bàn cãi.

Tóm lại Phạm Võng Bồ tát giới của Ngài La Thập truyền và Địa Trì Bồ tát giới do Ngài Đàm Vô Sấm truyền, chẳng những là hai dòng lớn của Trung Quốc mà ở tại Ấn Độ cũng là hai dòng lớn. Phạm Võng là từ Ngài Di Lặc truyền xuống hai mươi vị Bồ tát và đến Trung Quốc, Địa Trì là từ Bồ tát Liên Hoa Tạng và đến Trung Quốc. Đây không phải chứng minh ngay từ đầu là hai dòng lớn ư? Nhưng đến đời sau ở Trung Quốc pháp thọ giới của Bồ tát giới lại do ba hệ: Anh Lạc,Phạm Võng, Du Già hội quy tổng hợp thành một pháp thọ giới toàn bích, như cuối đời nhà Minh có “Bồ tát Giới Truyền Giới Chánh Phạm” do luật sư Độc Thể Kiến Nguyệt biên tập, là một bộ sách góp nhặt từ các bộ sách khác mà thành.

II. ĐIỀU KIỆN CẦU THỌ BỒ TÁT GIỚI

Vì Bồ tát giới có sự bất đồng của đốn lập và tiệm thứ, lại có sự bất đồng của tại gia và xuất gia, nên đối với điều kiện cầu thọ Bồ tát giới cũng đều riêng có sự bất đồng của khoan dung và nghiêm khắc. Nhưng cần phải có đủ điều kiện chủ yếu đó là:

1. Phải có cái thiện của sự cảm giới.

2. Phải không có cái ác của chướng giới.

Điều kiện chủ yếu nhất: “Phải có cái thiện của sựcảm giới”.

Cái thiện của sự cảm giới phân làm hai thứ là Bồ tát chủng tánh và Phát Bồ đề nguyện.

1. Bồ tát chủng tánh: Chỉ cho căn tánh đại thừa, như Kinh Địa Trì nói:“Trụ vô chủng tánh Bổ đặc già la (sát thủ thú-hữu tình chúng sanh), vì không chủng tánh tuy có phát tâm và gia hạnh nhưng nhất định không thể viên mãn Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Đó là nói: người không có căn tánh Đại thừa tuy có phát tâm cầu thọ Bồ tát giới nhưng không thể thực hành đúng như thật đạo Bồ tát. Bỏ mình vì người, quên mình mà lợi người, là tinh thần Bồ tát của căn tánh Bồ tát, nếu như không có tinh thần này thì không làm sao đến mục đích thành Phật.

2. Phát Bồ đề nguyện, hoặc gọi là phát Bồ đề tâm.

Như ngày nay ở trong cửa Phật, bất luận bảo người làm việc gì, đều phải nói: “Xin ông phát tâm”. Đây tuy không phải kể là sai, nhưng lại đem hai chữ phát tâm lạm dụng quá độ, lại dùng hai chữ “ phát tâm” không phân biệt thiện ác, nguyện làm thiện cố nhiên là phát tâm, muốn tạo ác cũng kể là phát tâm. Kỳ thật, bản ý của phát Bồ đề nguyện là chỉ cho ý chí nỗ lực tinh tấn làm thiện, bỏ ác. Nếu có căn tánh Đại thừa này mà không có chí nguyện kiên cường để thành tựu nó cho được viên mãn, thì dù có căn tánh Đại thừa thì cũng là vô dụng. Giống như có một khúc gỗ tốt, có thể làm thành đồ dùng quý giá, nhưng nếu như không gia công chế tác thì khúc gỗ tốt cũng chỉ là khúc gỗ mà thôi. Vì thế trong Kinh Địa Trì nói: “Nếu không phát tâm, không tu gia hạnh, tuy có kham nhậm nhưng không chóng chứng Vô thượng Bồ đề”.

Căn cứ vào Bồ tát Giới Bổn Sớ của pháp sư Nghĩa Tịch nói, nội dung cái thiện của sự cảm giới còn có một quy định là phải đầy đủ ba duyên mới thành, tức là: “Thắng chủng tánh, Thắng hạnh nguyện và Thắng hạnh tâm. Thắng chủng tánh đồng với Bồ tát chủng tánh. Thắng hạnh nguyện đồng với phát Bồ đề nguyện. Thắng hạnh tâm gồm có 10 thứ yêu cầu:

1. Sinh thâm tâm đối với Vô thượng Bồ đề.

2. Suốt đời lìa ác tri thức, gần thiện tri thức.

3. Suốt đời hối quá, tùy hỷ khuyến thỉnh (Phật pháp), hồi hướng (chúng sinh) tăng trưởng Phật đạo.

4. Suốt đời đem hết năng lực cúng dường Tam bảo.

5. Suốt đời đọc tụng biên chép kinh điển Phương Đẳng vì người giải nói.

6. Tùy sức cứu hộ cho đến một niệm sinh lòng xót thương đối với người cô độc, nghèo khổ, hoặc phạm giới luật.

7. Suốt đời bỏ sự biếng nhác, phát khởi tinh tấn siêng cầu Phật đạo.

8. Lúc ở trong trần lao ngũ dục sinh ra phiền não hay tìm cách chế phục.

9. Nếu lúc đối với Vô thường Bồ đề sinh tâm lui sụt, sinh tâm tham đắm pháp Tiểu thừa, phải tìm cách diệt trừ.

10. Xả bỏ tất cả sỡ hữu, không tiếc thân mạng.

Ba duyên: Thắng tánh, Thắng nguyện, Thắng tâm, phối hợp với kham nhậm, gia hạnh, đại Bồ đề, tức gọi là Bồ tát tam trì. Nay đem nội dung cái thiện của cảm giới liệt vào biểu đồ như sau:

                       

Thông thường lúc cầu giới, vị pháp sư chỉ hỏi hai câu: “Ông là Bồ tát chăng? Ông đã phát Bồ đề tâm chưa?”. Đây cũng là thủ tục phải trải qua để hỏi về Bồ tát chủng tánh và phát Bồ đề nguyện, còn 10 thứ yêu cầu của Thắng hạnh tâm thì rất ít hỏi đến. Nhưng lý ra người cầu thọ Bồ tát giới phải tự thệ đầy đủ 10 thứ yêu cầu của Thắng hạnh tâm này.

Chính vì trước khi thọ giới phải có cái thiện của cảm giới, mà thật ra chúng sanh từng học Phật thì không thể biết cái gì gọi là cái thiện của cảm giới. Nhưng theo Phạm Võng và Anh Lạc nói: “Chúng sinh nào hiểu được lời của Pháp sư đều thọ đắc giới”. Vì thế điều giới khinh thứ 45 phải nói: “Nếu Phật tử thường khởi tâm đại từ bi, hoặc vào tất cả thành ấp, nhà cửa, thấy tất cả chúng sanh, phải tâm nghĩ, miệng nói: “Các ngươi là súc sanh phát Bồ đề tâm”. Bồ tát vào tát cả chỗ núi rừng, sông ngòi, vườn rừng đều khiến cho tất cả chúng sinh phát Bồ đề tâm”. Đây là công đức giáo hóa khiến cho tất cả chúng sinh biết cái thiện của cảm giới. Kinh Anh Lạc quyển hạ cũng nói: “ Nếu có người muốn đến thọ giới Bồ tát, Pháp sư trước tiên vì họ mà giảng giải, đọc tụng, khiến cho người ấy tâm khai ý giải, sinh lòng ưa thích, sau đó mới truyền thọ”.

Căn cứ vào đó, trước khi truyền giới Bồ tát, Pháp sư giảng giải Bồ tát giới. Bằng không cái thiện của cảm giới chưa biết rõ, chưa biết đầy đủ, làm sao mà đắc giới? Pháp sư truyền giới ngày nay chỉ mê tín tấn hương (đốt sẹo trên thân thể) cho đó là cái thiện của cảm giới, thật bất hạnh thay!

“Cái thiện của cảm giới” như nhuộm vải, trước hết phải có tính chất có thể nhuộm (căn tánh) và cái yêu cầu cần phải nhuộm (phát tâm) mới có thể đem màu sắc nhuộm lên vải được.

Điều kiện chủ yếu thứ hai: “Phải không có cái ác củachướng giới”.

Những gì là cái ác của chướng giớ? Các chướng đó là: phiền não chướng, nghiệp chướng, báo chướng. Đây là ba chướng ngại lớn ngăn cản chúng sinh liễu sinh thoát tử, hành Bồ tát đạo

Trong pháp thọ giới của Bồ tát giới, chỉ hỏi thất nghịch (so với ngũ nghịch chướng Tỳ kheo giới thêm hai tội thất nghịch: giết Hòa thượng và A xà lê). Thất nghịch thuộc về nghiệp chướng, hễ phạm một tội nào trong tội thất nghịch đều không thọ Bồ tát giới, đây là cái ác chủ yếu của chướng giới.

Kỳ thật trong ba chướng, chướng nào cũng đều thành giới chướng của Bồ tát. Nay đem tình hình của ba chướng giới căn cứ theo Giới Sớ của Ngài Nghĩa Tịch soạn thuật, phân biệt giới thiệu như sau:

1. Phiền não chướng có 4 thứ:

a/ Phóng dật: phóng dật thành tánh, tạm thời khó sửa đổi, vì thế không được thọ giới.

b/ Tự không thiện xảo và theo bạn ác, vốn không tưởng đến thọ giới.

c/ Bị người khác ràng buộc: người bị bậc tôn trưởng, chồng, chủ nhân, vua, giặc, oan gia cầu thúc, thân tâm chẳng được tự do, vì thế chẳng được thọ giới.

d/ Sinh hoạt cùng khốn: luôn luôn bị sự sinh hoạt chi phối lo lắng, vì thế không rảnh rang nghĩ đến thọ giới.

2. Nghiệp chướng có 2 thứ:

a/ Thất nghịch: là thất giá. Trong Kinh Phạm Võng nói: làm thân Phật ra máu, giết cha, giết mẹ, giết Hòa thượng, giết A xà lê, phá Yết ma tăng và Chuyển pháp luân tăng, giết Thánh nhân (Tiểu thừa La hán, Đại thừa Địa thượng Bồ tát).

b/ Thập trọng: là 10 điều thứ giới trọng của Anh Lạc và Phạm Võng

3. Báo chướng có 4 thứ:

a/ Địa ngục.

b/ Ngạ quỷ.

c/ Trong loài súc sinh không hiểu được lời của Pháp sư.

d/ Bắc câu lô châu và người bẩm tánh hạ liệt không tin nhân quả, ý chí bạc nhược.

Về ý nghĩa của ba chướng này cần phải nói thêm: phiền não chướng tuy có bốn thứ chướng giá nạn, Pháp sư Nghĩa Tịch đối với điều này giải thích như vầy: “vì không quyết định, nên chẳng phải nhu thất giá quyết định không đắc giới”, cũng là nói phiền não chướng có thể chướng giới nhưng chẳng phải tuyệt đối chướng giới.

Tội thất nghịch trong nghiệp chướng là không sám hối, người phạm tội thất nghịch bất luận sám hối hay không, hiện đời đều không được đắc giới. Như đều giới khinh thứ 41 của Phạm Võng nói: nếu hiện thân có thất giá (nghịch), Sư chẳng nên cho thọ giới. Điều giới khinh thứ 40 cũng nói: Bồ tát Pháp sư không được cho người phạm tội thất nghịch hiện đời này thọ giới”. Lại nói: “ Nếu đủ thất nghịch thì hiện đời không đắc giới”.

Trên thực tế, tội thất nghịch không phải ai ai đều có thể phạm đến được. Sinh sau Phật diệt độ không làm thân Phật chảy máu được. Trừ người xuất gia đã thọ giới Sa di trở lên thì không có Hòa thượng để giết (nhưng ngoại đạo Ấn Độ cũng có Hòa thượng, Hòa thượng ni). Người tục chưa quy y Phật giáo, không có A xà lê để giết. Người tại gia không đủ tư cách phá tăng. Trừ Tỳ kheo ra không có người có thể phá Chuyển pháp luân tăng, Tỳ kheo ni chỉ có thể phá Yết ma tăng chứ không thể phá Chuyển pháp luân tăng. Tăng có cơ hội giết Thánh nhân không phải là dễ. Thời nay, trọng yếu hơn hết là hai tội nghịch: giết cha, giết mẹ: người xuất gia thì có thêm giết Hòa thượng và giết A xà lê thành bốn tội nghịch là thuộc chủ yếu. Nhưng vì tuân theo quy chế, lúc hỏi vẫn hỏi cả thất nghịch.

Đến như phạm 10 giới trọng, được hay không được thọ giới lại, căn cứ vào Giới Sớ của pháp sư Nghĩa Tịch có bốn thuyết bất đồng:

1. Bốn điều giới trước trong 10 giới trọng là căn bản tánh tội, hễ phá thì đồng như tội thất nghịch dù sám hối hay không sám hối, hiện đời cũng không đắc giới. Còn 6 điều giới sau, nếu có phạm mà sám thì không chướng giới.

 2. Nhưng trong điều giới khinh thứ 40 của Pham Võng nói: Nếu người phạm thập trọng phải dạy người ấy sám hối cho đến một năm, cần phải thấy hảo tướng. Hảo tướng như Phật đến xoa đầu, thấy ánh sáng, thấy bông hoa, các thứ tướng lạ, thì được diệt tội. Sau khi diệt tội được thọ giới lại.

3. Phạm 4 giới trọng trước, sám hối cần phải thấy hảo tướng, thấy hảo tướng thì được thọ giới lại, không thấy hảo tướng không được thọ giới lại. Phạm 6 giới trọng sau, dù không sám hối vẫn có thể thọ lại và đắc giới lại.

 4. Phạm 10 giới trọng không sám hối đều là giới chướng, sám hối đều được thọ giới lại.

 Nhưng, trong Kinh Anh Lạc lại nói: “10 giới trọng, có phạm không có hối, nhưng được thọ giới lại”. Đây là nói: phạm 10 giới trọng là không có pháp hối quá, nhưng phạm giới mất giới vẫn có thể sau khi mất giới xin thọ giới lại.

Báo chướng trong pháp thọ giới cũng chưa liệt vào “Giá nạn”. Đồng thời, Kinh Anh Lạc nói: “Lục đạo chúng sinh thọ đắc giới, chỉ hiểu lời nói của Pháp sư liền đắc giới, không mất”. Kinh Phạm Võng cũng nói: “Hễ nghe được ý tứ của ngữ ngôn của Pháp sư thuyết pháp, tất cả chúng sinh đều được thọ đắc giới. Trên thực tế, vấn đề “Hiểu lời của Pháp sư” cũng khó đối với nhiều chúng sinh. Chúng sinh do nghiệp báo bị đọa trong địa ngục, ngạ quỷ, chịu khổ không ngừng, khó có cơ hội và năng lực nghe pháp. Đến như súc sinh lợi căn hiểu được tiếng nói của Pháp sư không phải không có, nhưng rất ít có. Người Bắc câu lô châu vốn không tin Phật pháp. Nhân loại trong thế giới này của chúng ta cũng có nhiều người không dám tin Phật hoặc không muốn tin Phật. Đây thuộc về quả báo chướng ngại đến cùng một lượt với đời sống. Nhưng trong súc sinh có chúng sinh hiểu lời nói, trong địa ngục có chúng sinh tội nhẹ, trong ngạ quỷ cũng có chúng sinh có phước. Những chúng sinh này đều có thể thọ Bồ tát giới, vì thế báo chướng đối với việc thọ Bồ tát giới mà nói, cũng không phải quyết định không được đắc giới. Nhưng chúng ta phải biết, đây là một môn của giới chướng.

Cái ác của chướng giới như bệnh khuẩn có sức kháng dược tánh cực mạnh, nếu loại khuẩn bệnh này còn ở trong thân thể con người thì uống thuốc bổ đều không công hiệu và không làm sao bổ ích được. Tính chất của tội thất nghịch khó trị liệu, đại khái có thể so sánh với vi khuẩn ung thư trong giới y học ngày nay.

Nay đem các điều kiện chủ yếu của sự cầu thọ Bồ tát giới liệt vào đồ biểu như sau:

 

 

Thông thường lúc cầu giới, vị pháp sư chỉ hỏi hai câu: “Ông là Bồ tát chăng? Ông đã phát Bồ đề tâm chưa?”. Đây cũng là thủ tục phải trải qua để hỏi về Bồ tát chủng tánh và phát Bồ đề nguyện, còn 10 thứ yêu cầu của Thắng hạnh tâm thì rất ít hỏi đến. Nhưng lý ra người cầu thọ Bồ tát giới phải tự thệ đầy đủ 10 thứ yêu cầu của Thắng hạnh tâm này.

Chính vì trước khi thọ giới phải có cái thiện của cảm giới, mà thật ra chúng sanh từng học Phật thì không thể biết cái gì gọi là cái thiện của cảm giới. Nhưng theo Phạm Võng và Anh Lạc nói: “Chúng sinh nào hiểu được lời của Pháp sư đều thọ đắc giới”. Vì thế điều giới khinh thứ 45 phải nói: “Nếu Phật tử thường khởi tâm đại từ bi, hoặc vào tất cả thành ấp, nhà cửa, thấy tất cả chúng sanh, phải tâm nghĩ, miệng nói: “Các ngươi là súc sanh phát Bồ đề tâm”. Bồ tát vào tát cả chỗ núi rừng, sông ngòi, vườn rừng đều khiến cho tất cả chúng sinh phát Bồ đề tâm”. Đây là công đức giáo hóa khiến cho tất cả chúng sinh biết cái thiện của cảm giới. Kinh Anh Lạc quyển hạ cũng nói: “ Nếu có người muốn đến thọ giới Bồ tát, Pháp sư trước tiên vì họ mà giảng giải, đọc tụng, khiến cho người ấy tâm khai ý giải, sinh lòng ưa thích, sau đó mới truyền thọ”.

Căn cứ vào đó, trước khi truyền giới Bồ tát, Pháp sư giảng giải Bồ tát giới. Bằng không cái thiện của cảm giới chưa biết rõ, chưa biết đầy đủ, làm sao mà đắc giới? Pháp sư truyền giới ngày nay chỉ mê tín tấn hương (đốt sẹo trên thân thể) cho đó là cái thiện của cảm giới, thật bất hạnh thay!

“Cái thiện của cảm giới” như nhuộm vải, trước hết phải có tính chất có thể nhuộm (căn tánh) và cái yêu cầu cần phải nhuộm (phát tâm) mới có thể đem màu sắc nhuộm lên vải được.

Điều kiện chủ yếu thứ hai: “Phải không có cái ác của chướng giới”.

Những gì là cái ác của chướng giớ? Các chướng đó là: phiền não chướng, nghiệp chướng, báo chướng. Đây là ba chướng ngại lớn ngăn cản chúng sinh liễu sinh thoát tử, hành Bồ tát đạo

Trong pháp thọ giới của Bồ tát giới, chỉ hỏi thất nghịch (so với ngũ nghịch chướng Tỳ kheo giới thêm hai tội thất nghịch: giết Hòa thượng và A xà lê). Thất nghịch thuộc về nghiệp chướng, hễ phạm một tội nào trong tội thất nghịch đều không thọ Bồ tát giới, đây là cái ác chủ yếu của chướng giới.

Kỳ thật trong ba chướng, chướng nào cũng đều thành giới chướng của Bồ tát. Nay đem tình hình của ba chướng giới căn cứ theo Giới Sớ của Ngài Nghĩa Tịch soạn thuật, phân biệt giới thiệu như sau:

1.      Phiền não chướng có 4 thứ:

a/ Phóng dật: phóng dật thành tánh, tạm thời khó sửa đổi, vì thế không được thọ giới.

b/ Tự không thiện xảo và theo bạn ác, vốn không tưởng đến thọ giới.

c/ Bị người khác ràng buộc: người bị bậc tôn trưởng, chồng, chủ nhân, vua, giặc, oan gia cầu thúc, thân tâm chẳng được tự do, vì thế chẳng được thọ giới.

d/ Sinh hoạt cùng khốn: luôn luôn bị sự sinh hoạt chi phối lo lắng, vì thế không rảnh rang nghĩ đến thọ giới.

2.      Nghiệp chướng có 2 thứ:

a/ Thất nghịch: là thất giá. Trong Kinh Phạm Võng nói: làm thân Phật ra máu, giết cha, giết mẹ, giết Hòa thượng, giết A xà lê, phá Yết ma tăng và Chuyển pháp luân tăng, giết Thánh nhân (Tiểu thừa La hán, Đại thừa Địa thượng Bồ tát).

b/ Thập trọng: là 10 điều thứ giới trọng của Anh Lạc và Phạm Võng

3.      Báo chướng có 4 thứ:

a/   Địa ngục.

b/   Ngạ quỷ.

c/   Trong loài súc sinh không hiểu được lời của Pháp sư.

d/   Bắc câu lô châu và người bẩm tánh hạ liệt không tin nhân quả, ý chí bạc nhược.

Về ý nghĩa của ba chướng này cần phải nói thêm: phiền não chướng tuy có bốn thứ chướng giá nạn, Pháp sư Nghĩa Tịch đối với điều này giải thích như vầy: “vì không quyết định, nên chẳng phải nhu thất giá quyết định không đắc giới”, cũng là nói phiền não chướng có thể chướng giới nhưng chẳng phải tuyệt đối chướng giới.

Tội thất nghịch trong nghiệp chướng là không sám hối, người phạm tội thất nghịch bất luận sám hối hay không, hiện đời đều không được đắc giới. Như đều giới khinh thứ 41 của Phạm Võng nói: nếu hiện thân có thất giá (nghịch), Sư chẳng nên cho thọ giới. Điều giới khinh thứ 40 cũng nói: Bồ tát Pháp sư không được cho người phạm tội thất nghịch hiện đời này thọ giới”. Lại nói: “ Nếu đủ thất nghịch thì hiện đời không đắc giới”.

Trên thực tế, tội thất nghịch không phải ai ai đều có thể phạm đến được. Sinh sau Phật diệt độ không làm thân Phật chảy máu được. Trừ người xuất gia đã thọ giới Sa di trở lên thì không có Hòa thượng để giết (nhưng ngoại đạo Ấn Độ cũng có Hòa thượng, Hòa thượng ni). Người tục chưa quy y Phật giáo, không có A xà lê để giết. Người tại gia không đủ tư cách phá tăng. Trừ Tỳ kheo ra không có người có thể phá Chuyển pháp luân tăng, Tỳ kheo ni chỉ có thể phá Yết ma tăng chứ không thể phá Chuyển pháp luân tăng. Tăng có cơ hội giết Thánh nhân không phải là dễ. Thời nay, trọng yếu hơn hết là hai tội nghịch: giết cha, giết mẹ: người xuất gia thì có thêm giết Hòa thượng và giết A xà lê thành bốn tội nghịch là thuộc chủ yếu. Nhưng vì tuân theo quy chế, lúc hỏi vẫn hỏi cả thất nghịch.

Đến như phạm 10 giới trọng, được hay không được thọ giới lại, căn cứ vào Giới Sớ của pháp sư Nghĩa Tịch có bốn thuyết bất đồng:

1. Bốn điều giới trước trong 10 giới trọng là căn bản tánh tội, hễ phá thì đồng như tội thất nghịch dù sám hối hay không sám hối, hiện đời cũng không đắc giới. Còn 6 điều giới sau, nếu có phạm mà sám thì không chướng giới.

 2. Nhưng trong điều giới khinh thứ 40 của Pham Võng nói: Nếu người phạm thập trọng phải dạy người ấy sám hối cho đến một năm, cần phải thấy hảo tướng. Hảo tướng như Phật đến xoa đầu, thấy ánh sáng, thấy bông hoa, các thứ tướng lạ, thì được diệt tội. Sau khi diệt tội được thọ giới lại.

3. Phạm 4 giới trọng trước, sám hối cần phải thấy hảo tướng, thấy hảo tướng thì được thọ giới lại, không thấy hảo tướng không được thọ giới lại. Phạm 6 giới trọng sau, dù không sám hối vẫn có thể thọ lại và đắc giới lại.

 4. Phạm 10 giới trọng không sám hối đều là giới chướng, sám hối đều được thọ giới lại.

   Nhưng, trong Kinh Anh Lạc lại nói: “10 giới trọng, có phạm không có hối, nhưng được thọ giới lại”. Đây là nói: phạm 10 giới trọng là không có pháp hối quá, nhưng phạm giới mất giới vẫn có thể sau khi mất giới xin thọ giới lại.

Báo chướng trong pháp thọ giới cũng chưa liệt vào “Giá nạn”. Đồng thời, Kinh Anh Lạc nói: “Lục đạo chúng sinh thọ đắc giới, chỉ hiểu lời nói của Pháp sư liền đắc giới, không mất”. Kinh Phạm Võng cũng nói: “Hễ nghe được ý tứ của ngữ ngôn của Pháp sư thuyết pháp, tất cả chúng sinh đều được thọ đắc giới. Trên thực tế, vấn đề “Hiểu lời của Pháp sư” cũng khó đối với nhiều chúng sinh. Chúng sinh do nghiệp báo bị đọa trong địa ngục, ngạ quỷ, chịu khổ không ngừng, khó có cơ hội và năng lực nghe pháp. Đến như súc sinh lợi căn hiểu được tiếng nói của Pháp sư không phải không có, nhưng rất ít có. Người Bắc câu lô châu vốn không tin Phật pháp. Nhân loại trong thế giới này của chúng ta cũng có nhiều người không dám tin Phật hoặc không muốn tin Phật. Đây thuộc về quả báo chướng ngại đến cùng một lượt với đời sống. Nhưng trong súc sinh có chúng sinh hiểu lời nói, trong địa ngục có chúng sinh tội nhẹ, trong ngạ quỷ cũng có chúng sinh có phước. Những chúng sinh này đều có thể thọ Bồ tát giới, vì thế báo chướng đối với việc thọ Bồ tát giới mà nói, cũng không phải quyết định không được đắc giới. Nhưng chúng ta phải biết, đây là một môn của giới chướng.

Cái ác của chướng giới như bệnh khuẩn có sức kháng dược tánh cực mạnh, nếu loại khuẩn bệnh này còn ở trong thân thể con người thì uống thuốc bổ đều không công hiệu và không làm sao bổ ích được. Tính chất của tội thất nghịch khó trị liệu, đại khái có thể so sánh với vi khuẩn ung thư trong giới y học ngày nay.

Nay đem các điều kiện chủ yếu của sự cầu thọ Bồ tát giới liệt vào đồ biểu như sau:

 

III. VẤN ĐỀ THẦY TRÒ CỦA BỒ TÁT GIỚI

Nhân vì Bồ tát giới vốn có nhiều thứ, nên vấn đề thầy trò cũng đều riêng có bất đồng. Trong đó, yêu cầu của Kinh Anh Lạc là rộng rãi hơn hết: “Về vấn đề này, thì vợ chồng, lục thân đều làm thầy truyền giới cho nhau”. Đó nói là: phàm là người đã thọ Bồ tát giới rồi, bất luận tăng tục, giả sử vợ chồng và lục thân tại gia cũng có thể truyền thọ giới pháp Bồ tát cho nhau. Nhưng theo sự giải thích của Pháp sư Nghĩa Tịch: “Giới tại gia có thể như Kinh, năm chúng xuất gia cần phải đủ đức (mới được truyền thọ)”.

Yêu cầu của Ưu bà tắc Giới Kinh rất nghiêm khắc: mãn 6 tháng gần gũi bậc trí giả xuất gia, bậc trí giả lại phải hết lòng xem xét bốn oai nghi (đi, đứng, ngồi, nằm) của người này, nếu biết người này làm được như lời dạy…, qua 6 tháng xong, hòa hợp tăng chúng, đủ 20 người tác bạch yết ma”, mới có thể truyền Đại thừa ngũ giới và Bồ tát giới 6 trọng 28 khinh.

Theo pháp truyền giới của Phạm Võng do Ngài La Thập truyền, nói: Thầy phải là Bồ tát xuất gia đầy đủ năm đức:

1. Kiên trì tịnh giới

2. Mười năm giới lạp

3. Khéo hiểu luật tạng

4. Có công phu tu thiền

5. Trí tuệ sâu, biện tài vô ngại

Lại nói còn có 4 đức:

1. Đồng pháp Bồ tát: biểu thị không phải là người học Tiểu thừa.

2. Đã phát đại nguyện: biểu thị không phải là người chưa phát Bồ đề tâm.

3. Có trí lực: biểu thị đối với văn nghĩa của Kinh luật hiểu được, trì được.

4. Nơi ngữ biểu đạt nghĩa, có khả năng truyền dạy: biểu thị có khả năng dùng ngôn ngữ biện luận rõ ràng, thuyết pháp dạy người khiến cho mở thông tâm trí.

Trong Kinh Địa Trì nói: “Cần phải giới đức nghiêm minh, khéo hiểu tam tạng, có thể làm cho người phát khởi tâm kính tin mới có thể làm thầy cho người cầu thọ Bồ tát giới”.

Trong Thiện Giới Kinh lại đòi hỏi kỹ lưỡng hơn: nếu người bất tín, chẳng nên theo thọ giới, người bỏn xẻn tham lam, người không biết đủ, phá giới, ô giới, không kính trọng giới, người thích tham sân, người không nhẫn nhục, người không có khả năng ngăn tội lỗi của người khác, người biếng nhác, giải đãi, ham hưởng thụ thú vui thế gian, thích nói chuyện đời, cho đến không có một niệm nghĩ đến Tam bảo, nghi ngờ, ngu si tăm tối không đọc tụng được Bồ tát pháp tạng (Kinh tạng), Bồ tát ma di (Luận tạng) và sinh phỉ báng, người như thế không nên theo thọ giới”.

Do đây đủ thấy muốn làm một Giới sư Bồ tát giới thật không phải dễ.

Đến như thái độ của một vị Bồ tát Pháp sư, trong Kinh Phạm Võng còn có yêu cầu:

1. Điều giới khinh thứ 22: “ Nếu pháp sư tự ỷ mình hiểu Kinh luật, Đại thừa học giới, kết bạn cùng với quốc vương, thái tử, bá quan, mà tân học Bồ tát đến cầu hỏi hoặc nghe Kinh, nghĩa luật, lại vì tâm khinh ghét, tâm ngã mạn mà không giải đáp, đây là phạm khinh cấu tội”.

2. Điều giới khinh thứ 40: “Lúc cho người thọ giới không được lựa chọn, tất cả quốc vương, vương tử, đại thần, bá quan, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, tín nam, tín nữ, dâm nam, dâm nữ, mười tám Phạm thiên, thiên tử sáu cõi Dục, người không căn (không có sinh thực khí), huỳnh môn, nô tỳ, tất cả quỷ thần đều được thọ giới”

3. Điều giới khinh thứ 41: “Bậc thầy giáo giới phải ở trong pháp Bồ tát giới này mỗi mỗi đều hiểu rõ. Nếu không hiểu Kinh luật Đại thừa hoặc khinh hoặc trọng, tưởng phải chẳng phải, không hiểu đệ nhất nghĩa đế, tập chủng tánh, trưởng dưởng tánh, bất khả hoại tánh, đạo chủng tánh, chánh pháp tánh. Trong đó, bao nhiêu quán hạnh xuất nhập, 10 chi thiền, tất cả hành pháp mỗi mỗi không hiểu ý nghĩa trong các pháp này. Vì lợi dưỡng, vì danh tiếng, ác cầu, đa cầu, vì tham lợi, tham nhiều đệ tử mà dối hiện thông hiểu tất cả Kinh luật, và mong muốn cúng dường đó là tự dối mình cũng là gạt người khác, cố truyền giới cho người, phạm khinh cấu tội”.

4. Điều giới khinh thứ 46: “Pháp sư Tỳ kheo không được đứng thuyết pháp cho tứ chúng nghe. Lúc thuyết pháp, Pháp sư phải ngồi tòa cao, hương hoa cúng dường, tứ chúng nghe pháp phải ngồi dưới thấp.

Trong Kinh Địa Trì và Kinh Anh Lạc đều nói chỉ có một vị Giới sư. Trong điều giới khinh thứ 41 của Phạm Võng lại nói: “Thấy người muốn thọ giới phải thỉnh hai sư; Hòa thượng, A xà lê. Hai sư phải hỏi…” đủ thấy phải có hai vị pháp sư, nhưng trong pháp thọ giới của Phạm Võng cũng chỉ có một sư. Trong Tỳ Ni Hậu Tập Vấn Biện của Đại sư Ngẫu Ích có nói như vầy: “Nếu theo kinh văn dường như cần phải hai sư. Nhưng Anh lạc, Địa Trì đều chỉ một sư. Lại, pháp thọ giới của Phạm võng truyền từ Ngài La Thập ghi trong Nghĩa Sớ cũng chỉ có một sư. Chỗ nói thỉnh hai sư, là thỉnh Phật, Bồ tát. Chỗ nói: phải cúng dường hai sư đúng như pháp và giết hai sư hành tội nghịch cũng có thể là chỉ hai sư của giới Tỳ kheo”. Ý kiến này của Đại sự Ngẫu Ích là căn cứ vào Giới Sớ của Đại sư Trí Giả. Nhưng Đại sư Trí Giả đối với hai vấn đề này còn có nghi vấn, Ngài nói: “Văn lại nói: hai sư phải nói: Ông có phạm thất giá không? Dường như không phải chỉ Phật”. Điều này Đại sư Ngẫu Ích chưa có giải nói và cho đến ngày nay cũng chưa được giải rõ!

Xét theo nội dung của pháp thọ giới Bồ tát, vị Hòa thượng của Bồ tát giới là Phật Bổn Sư trên địa cầu này, sau Phật Thích Ca, trước Phật Di Lặc thì Thích Ca là Phật Bổn sư của chúng Tỳ kheo, vì thế Thích Ca là đắc giới Hòa thượng của Bồ tát giới. Bồ tát Văn Thù là Yết ma sư, Bồ tát Di Lặc là giáo thọ sư, tất cả Như lai làm tôn chứng, tất cả Bồ tát Ma ha tát là đồng học. Vị Bồ tát pháp sư chỉ phụ trách giáo giới, khải phát và ở bên cạnh làm chứng, vì thế trong điều khinh thứ 41 của Phạm Võng gọi Bồ tát pháp sư là “ Trí giả”. Ngài Đàm Vô Sấm truyền Bồ tát giới cho Đạo Tấn, cũng chỉ là “làm chứng” mà thội.

Còn “hai sư” của “hai sư phải hỏi” làm sao giải thích? Tôi nghĩ chỉ có một cách giải thích là do sự lầm lẫn trong quá trình sao chép truyền bá tạo thành, hoặc có thể vì chép Kinh đem hai chữ “Pháp sư” viết lầm ra hai sư. Trừ cách giải thích này ra, không có cách giải thích hợp lý về ý nghĩa của hai chữ “Hai sư” này muốn chỉ.

Nhưng đối với hai chữ hai sư này, các nhà chú giải cũng có nhiều ý kiến khác nhau:

1. Đại sư Pháp Tạng nói: “Ở đây có 2 nghĩa: Một là thỉnh hai sư thọ Bồ tát giới như thọ Sa di thập giới. Hai là thỉnh Bổn Sư Thích Ca Phật làm Hòa thượng, Sư đích thân truyền giới làm A xà lê”. Ngài Pháp Tạng tiếp theo nêu luận chứng: “Thiện Giới Kinh nói: Sư có 2 loại: một là không thể thấy được, tức là Phật, Bồ tát tăng; hai là có thể thấy được, đó là Giới sư; từ hai sư này đắc Bồ tát giới”. Phổ Hiền Quán Kinh thỉnh ba sư là ở trong Sư không thể thấy mà thỉnh, trong Du già thỉnh một sư là chỉ cho sư có thể thấy.

2. Pháp sư Nghĩa Tịch nói: Làm Thọ giới sư cho người phải chánh chế Hòa thượng, vì trước sau thân giáo là Hòa thượng… Lại phải có một người làm Yết ma sư, còn dạy thỉnh thêm một người là A xà lê … nghĩa là đồng giới pháp thọ Sa di của Thanh Văn.

3. Trong Thái Hiền Cổ Tích Ký nói: Phải dạy thỉnh hai sư, Hòa thượng là gốc của đắc giới, A xà lê là nhân duyên của đắc giới. Phổ Hiền Quán Kinh nói: thỉnh ba sư là vì cần kính trọng. Du già chỉ thỉnh có một sư, vì một người có khả năng làm được nhiều việc.

Trên thực tế, ý kiến của các vị Cổ Đức đều có chỗ đáng quý. Nhưng đối với câu: “Hai sư phải hỏi” đều được giải thích được ổn thỏa. Bất luận là giới sư có thể thấy hay không thể thấy, thọ giới quyết không thể chỉ cho Phật, Bồ tát không thế thấy, cũng không thể liên tưởng đến Thân giáo Hòa thượng và Yết ma A xà lê. Riêng nói với Bồ tát, trừ Giáo giới sư là người hiện tiền lúc thọ giới, Hòa thượng Phật và Bồ tát A xà lê không thể thấy, nhưng cũng không cần Tỳ kheo Pháp sư thay thế Phật và Bồ tát làm Hòa thượng và A xà lê, và cũng không thay thế được.

.....................................

 

 

 

Chương 5. Phương Pháp Thọ Bồ Tát Giới

 

I. CHỦNG LOẠI CỦA SỰ THỌ BỒ TÁT GIỚI

Căn cứ vào Kinh Anh Lạc quyển hạ nói: “Thọ giới có ba thứ: một là ở trước Phật. Bồ Tát hiện tại đắc chân thật thượng phẩm giới. Hai là sau khi Phật, Bồ Tát diệt độ, trong vòng ngàn dặm có người đã thọ giới Bồ Tát, thỉnh người ấy làm Giới sư truyền giới cho mình, trước hết phải đảnh lễ và thưa như sau: “Thỉnh Đại Tôn giả làm thầy truyền giới cho con”. Người đệ tử ấy được chánh pháp giới là trung phẩm giới. Ba là sau Phật diệt độ, lúc trong vòng ngàn dặm không có Pháp sư, phải ở trước hình tượng Phật, Bồ Tát quỳ gối chắp tay tự thệ thọ giới là hạ phẩm giới”.

Căn cứ vào điều giới khinh thứ 23 của Phạm Võng nói: “Sau Phật diệt độ, người hảo tâm muốn thọ Bồ Tát giới ở trước hình tượng Phật, Bồ Tát tự thệ thọ giới, phải ở trước Phật sám hối 7 ngày, thấy hảo tướng thì đắc giới.Nếu không được thấy hảo tướng thì phải sám hối 21 ngày đến một năm, cho đến khi thấy hảo tướng rồi mới ở trước tượng Phật, Bồ Tát thọ giới. Nếu không thấy được hảo tướng thì tuy trước tượng Phật thọ giới cũng không đắc giới. Nếu hiện tiền ở trước vị Pháp sư đã thọ Bồ Tát giới, không cần phải thấy hảo tướng. Vì cớ sao? Vì Pháp sư này, sư truyền thọ,vì sinh tâm kính trọng nên đắc giới. Nếu trong ngàn dặm không có thọ giới sư thì trước hình tượng Phật, Bồ Tát thọ giới, nhưng cần phải thấy hảo tướng”.

Tổng hợp các điều của Anh lạc, Phạm Võng điểm đại đồng mà có tiểu dị. Anh Lạc nêu ra ba thứ pháp thọ giới: Từ Phật hiện tiền thọ, là thượng phẩm; sau Phật diệt độ từ thầy thọ, là trung phẩm; không thầy tự thọ, là hạ phẩm. Phạm Võng tuy chưa đề cập từ Phật hiện tiền thọ, nhưng chỉ biểu thị rõ ràng “Sau Phật diệt độ” có hai cách: ở trước thầy thọ và tự thệ thọ. Thật ra cũng ám chỉ một phương pháp ở thời Phật hiện tiền thọ. Nhưng trong Anh Lạc, tự thệ thọ chưa nói tới cần phải thấy hảo tướng mới đắc giới, bằng không, thì không đắc giới.

Đây cũng là một vấn đề làm cho các vị Cổ đức cảm thấy cần phải tìm cách giải thích. Nhưng tự thệ thọ giớicần hay không cần phải thấy được hảo tướng, cuối đời Minh, Đại sư Ngẫu Ích trong bộ Tỳ Ni Hậu Tập Vấn Biện có một giải thích chiết trung, Ngài nói: “người cầu giới nên tự xét, nếu có thể niệm cùng bi trí tương ứng, trên gánh vác Chánh pháp, dưới thương xót chúng sinh, thì có thể tuân theo Anh Lạc, Địa Trì, giả sử không gặp thầy, phải cầu hảo tướng. Nếu hiện có minh sư, tâm lại kiêu mạn không theo minh sư cầu thọ giới, lại hướng về hình tượng Phật, Bồ Tát cầu đây là điều mà hai Kinh Anh Lạc, Phạm Võng không cho, ngũ hối (là pháp sám hối do Đại sư Trí Giả lập ra gồm 5 mục: 1. Sám hối, 2. Khuyến thỉnh, 3. Tùy hỷ, 4. Hồi hướng, 5. Phát nguyện) trọn không thành công.

Căn cứ vào Giới Sớ của Đại sư Trí Giả, đem phương pháp thọ giới phân làm ba loại:

1. Đối chư Phật thọ giới, có 2 thứ:

a- Chân Phật: Như Diệu Hải Vương và ngàn người con từ Xá Na Phật thọ Bồ Tát giới.

b- Tượng Phật: Như tượng Phật bằng vàng đồng, gỗ, đá, đất, hoa v.v… trong ngàn dặm không có thầy,được hướng về tượng Phật cầu dược thấy hảo tướng để tự thệ thọ giới.

2. Đối thánh nhân thọ giới, cũng có hai thứ:

a- Chân Thánh: Thập địa Bồ Tát và Đẳng giác Đại sĩ lúc hiện tiền có thể đối với các Ngài là duyên phát giới.

b- Tượng Thánh: Tức hình tượng Bồ Tát; nếu chỉ dùng hình tượng Bồ Tát e thành ra cái lỗi khinh thường. Kinh Địa Trì chỉ nói tượng Phật, chưa nói tượng Bồ Tát; trong Kinh Phạm Võng, Anh Lạc nói: Phật, Bồ Tát là ý nói bên Phật có Bồ Tát.

3. Đối phàm phu Pháp sư thọ giới

Sau khi Phật diệt độ, nếu người muốn cầu thọ Bồ Tát giới, tuy có hai pháp thức: Từ thầy thọ và tự thệ thọ, nhưng thật ra lấy từ thầy thọ giới làm chính, làm gốc. Tự thệ thọ giới là một pháp phương tiện bất đắc dĩ.Nếu như không coi ai ra gì, cho rằng không có người nào đủ tư cách làm Giới sư cho mình mà tự thệ ở trước hình tượng Phật, Bồ Tát thọ, thì rất khó đắc giới.

Nay đem chủng loại của sự thọ Bồ Tát giới liệt vào biểu đồ sau:

      

Bồ Tát giới cũng giống như ngũ giới có thể thọ toàn bộ hay tùy phần. Điều này xuất xứ từ trong Kinh Anh Lạc quyển ha. Có người thọ 1 giới gọi là nhất phần Bồ Tát,cho đến 2 phần, 3 phần, 4 phần, 10 phần gọi là Cụ túc thọ giới. Điều này trong Thái Hiền Phạm Võng Cổ Tích Ký quyển hạ nói rõ hơn: “Một phần thọ, tùy theo ý thích của người thọ lãnh nhận được hoặc thọ một giới hoặc nhiều đều được thành giới, gọi là Bồ Tát. Còn giới Thanh văn, bắt buộc thọ trì tất cả, nếu thọ một phần không dược gọi là Tỳ Kheo, nghĩa là nếu muốn hiện thời đắc A la hán viên mãn quỹ tắc, kiến lập học xứ, thì phải thọ đủ thập giới và Cụ túc giới. Bồ Tát không như vậy, nghĩa là không phải hiện đời thành Phật, vì phải trải qua vô số đại kiếp tu hành. Tuy chỉ cần hiểu lời nói của Pháp sư, chỉ thọ một giới còn hơn tất cả công đức của Nhị thừa. Công đức của La hán chỉ vì tự thân, đối với hữu tình không có ân phần. Một giới Bồ Tát vì độ tất cả chúng sinh, không một chúng sinh nào không mang ân”. Đây là đạo lý đối với tùy phần thọ trì Bồ Tát giới đã rõ ràng rồi. Công đức của Bồ Tát là từ phần của tất cả chúng sinh mà được, như trì một giới sát thì ở trong phần tất cả chúng sinh đều được công đức của bất sát, thế nên công đức lớn. Tiểu thừa giới chỉ vì tự thân chẳng thọ sinh tử, chỉ nghĩ đến sinh tử của chính mình, chứ không phải nghĩ vì chúng sinh, cho nên công đức nhỏ. Thành Phật là một sự nghiệp vĩ đại của nhiều kiếp, Bồ Tát đạo là nhân thành Phật, thế nên Bồ Tát không cần hiện đời thành Phật, tùy phần thọ giới không có quan hệ. La hán có thể hiện đời tu chứng, do đó không thể tùy phần thọ giới. Đương nhiên Bồ Tát giới hoan nghinh chúng sinh mãn phần thọ giới, mãn phần thọ là thọ hết tất cả giới pháp của Tam tụ tịnh giới.

II. PHÁP TỰ THỆ THỌ GIỚI

Trong Bồ Tát Giới Thọ Tuỳ Cương Yếu Biểu của Đại sư Hoằng Nhất nói: “Văn tự thệ thọ giới thấy trong Luận Du Già sư địa, Phạm Võng cần phải thấy hảo tướng. Nếu y theo Kinh Chiêm Sát Bổn Nghiệp và Luận Du Già là có thể thọ ngay”. Về vấn đề cần thấy hảo tướng hay không, đã thảo luận ở tiết trên.

Tự thệ thọ giới, phương pháp thọ như thế nào? Nay đem “Bồ Tát Anh Lạc Tự Thệ Bồ Tát Ngũ Trọng Giới Pháp” do Đại sư Hoằng Nhất y kinh soạn ra, tôi xin chép ra đây để cùng tham khảo.

1. Lễ kính Tam Bảo

(Nhất tâm kính lễ, quá khứ thế tận quá khứ tế nhất thiết Phật.

(Nhất tâm kính lễ, vị lai thế tận vị lai tế nhất thiết Phật.

(Nhất tâm kính lễ, hiện tại tế tận hiện tại thế nhất thiết Phật.

(Nhất tâm kính lễ, quá khứ thế tận quá khứ tế nhất thiết Pháp.

(Nhất tâm kính lễ, vị lai thế tận vị lai tế nhất thiết Pháp.

(Nhất tâm kính lễ, hiện tại thế tận hiện tại tế nhất thiết Pháp.

(Nhất tâm kính lễ, quá khứ thế tận quá khứ tế nhất thiết Tăng.

(Nhất tâm kính lễ, vị lai thế tận vị lai tế nhất thiết Tăng.

(Nhất tâm kính lễ, hiện tại thế tận hiện tại tế nhất thiết Tăng.

2. Thọ tứ y

Từ nay đến tận vị lai tế thân quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, quy y Pháp giới (nói 3 lần).

3. Hối tội

(Nếu hiện tại, thân, miệng, ý tội thập ác nguyện tuyệt đối không phạm, tận vị lai tế.

(Nếu vị lai, thân, miệng, ý tội thập ác nguyện tuyệt đối không phạm, tận vị lai tế.

(Nếu quá khứ, thân, miệng, ý tội thập ác nguyện tuyệt đối không phạm, tận vị lai tế.

Sám hối như vậy rồi, ba nghiệp thanh tịnh như lưu ly trong ngoài chiếu sáng (nói 3 lần).

(Phát tứ hoằng thệ nguyện)

4. Tự thệ thọ giới

“Con là …bạch thập phương Phật và đại địa Bồ Tát,con học Bồ Tát ngũ trọng giới (nói 3 lần).

5. Nói giới tướng

 (Từ nay cho đến thành Phật, trong khoảng này, không được cố sát sinh. Nếu có phạm, không phải là hạnh Bồ Tát, mất 42 pháp Hiền thánh; không được phạm, trì được không?

Được. (Tự đáp)

(Từ nay cho đến thành Phật, trong khoảng thời gian này không được cố vọng ngữ. Nếu có phạm, không phải là hạnh Bồ Tát, mất 42 pháp Hiền thánh, không được phạm, trì được không?

Được. (tự đáp)

(Từ nay cho đến thành Phật, trong khoảng này không được cố dâm. Nếu có phạm, không phải là hạnh Bồ Tát, mất 42 pháp Hiền thánh, không được phạm, trì được không?

(tự đáp): Được. 

 (Từ nay cho đến thành Phật, trong khoảng này không được cố bán rượu. Nếu có phạm, chẳng phải là hạnh Bồ Tát, mất 42 pháp Hiền thánh, không được phạm, trì được không?

(tự đáp) : Được.

1. Tán thán giới đức.

Thọ giới rồi vượt qua tứ ma, thoát cái khổ tam giới, đời đời không mất giới này, thường theo người hành trì cho đến thành Phật.

(Hồi hướng)

Một pháp tự thệ thọ giới này của Đại sư Hoằng Nhất có thể là do sự tham khảo pháp thọ giới Bồ Tát của Đại sư Ngẫu Ích chiếu theo các Kinh Phạm Võng, Anh Lạc, Địa Trì trùng định mà ra, nhân vì phương thức biên đính của hai pháp thọ giới này đại thể tương đồng, chỉ khác ở tường tận hay sơ lược, và Đại sư Hoằng Nhất lấy tài liệu của Kinh Anh Lạc làm chủ yếu.

III. PHÁP NƯƠNG THEO THẦY THỌ GIỚI

Nghi quỹ nương theo Bồ Tát Pháp sư thọ giới, từ ngài Tam Tạng La Thập và ngài Đàm Vô Sấm đến nay, các nhà tham khảo tổng hợp biên đính hơn 10 loại. Trong Giới Sớ của Đại sư Trí Giả đã nêu ra 6 loại : Phạm Võng, Địa Trì, Cao Xương, Anh Lạc, Tân Soạn, Chế Chỉ, ngoài ra còn có bổn của Pháp sư Huyền Sướng chưa liệt vào trong 6 loại này. Về sau lại có Pháp sư Nghĩa Tịch, Luật sư Linh Chi Kiến Nguyệt, Đại sư Ngẫu Ích đều có biên đính. Đến ngày nay, gần đây có Pháp sư Tục Minh biên đính một pháp thọ giới. Pháp sư Tục Minh rất suy tôn pháp thọ giới của Đại sư Ngẫu Ích, Ngài nói :”Nghi quỹ truyền Bồ Tát giới nhiều đời biên đính, thấy lưu hành đến đời nay được hơn 10 loại, đại để đều lấy các Kinh Anh Lạc, Phạm Võng, Du Già Giới Phẩm và Bổn cổ Cao Xương tổng hợp thành. Bồ Tát Giới Sớ của Thiên Thai đưa ra 12 môn, Đại sư Trạm Nhiên có “Thọ Bồ Tát Giới Nghi” thứ lớp hoàn toàn đồng, văn cú hơi khác. Đại sư Ngẫu Ích có “Trùng Định Thọ Bồ Tát Giới Pháp” ghi trong bộ Luật Yếu Hậu Tập, đáng được xem là giản dị, vừa chừng, được lưu hành nhưng không phổ biến, thật ít thấy nghe” (xem Giới Học Thuật Yếu).

Nhưng trong Bồ Tát Giới Thọ Tùy Cương Yếu Biểu nói : “Các Sư nêu ra nghi quỹ bất đồng, Nghi quỹ của Luật sư Linh Chi soạn là hay và hoàn bị hơn hết, được ghi chép trong Chi Uyển Di Biên”.

Bút giả tự xét không cao minh bằng Cổ đức và chư hiền đồng thời, nên không dám biên đính một pháp thọ Bồ Tát giới mới. Tuy nhiên, luận theo chỗ cần thiết, pháp thọ giới viết bằng văn ngôn không hợp với sự vận dụng của người thời nay. Bởi vì nội dung của văn ngôn trong khi thọ giới không dễ gì nghe qua một lần mà hiểu, nên thọ giới cũng không được đắc giới. Nhưng tôi vẫn dám hạ bút biên đính nghi quỹ thọ giới theo văn ngữ thể. Do đó chỉ giới thiệu cho độc giả xem pháp thọ giới được người tôn sùng để cùng tham khảo và vận dụng.

1. Truyền Thọ Bồ Tát Giới Chánh Phạm

Bộ này do Luật sư Kiến Nguyệt cuối đời Minh biên đính. Ngài nói trong văn Kinh Bồ Tát Anh Lạc Bổn Nghiệp và Di Lặc Bồ Tát Sở Thuyết Bồ Tát Giới Yết Ma đều nói, cho nên nay hội hợp thêm vào nghi quỹ để tuân hành có căn cứ. Chỉ vì bộ này hành văn quá dài, quá nhiều, cho nên đây là một thứ nghi quỹ dùng thích hợp cho giới tràng lớn thọ giới tập thể, cũng là một loại pháp thọ giới lưu thông rất rộng trong thời gian gần đây. Vì văn nghĩa quá dài, ở đây chỉ ghi lại môn loại của nó như sau:

 1. Phu tòa kết đàn giới.

 2. Pháp thỉnh sư nhập đàn.

 3. Pháp lễ kính Tam Bảo.

 4. Pháp chánh thỉnh sư.

 5. Pháp khai đạo giới.

 6. Pháp thỉnh Thánh.

 7. Thọ tứ bất hoại tín.

 8. Pháp sám hối quá.

 9. Pháp phát nguyện.

 10. Pháp phát giới thể.

 11. Pháp duyên giới tướng.

 12. Kết tán hồi tướng.

2. Thọ Đại Thừa Bồ Tát Giới Nghi

Đây là loại nghi quỹ được Đại sư Hoằng Nhất khen là “hay đẹp và hoàn bị hơn hết”. Bộ này do luật sư Linh Chi Nguyên Chiếu soạn, được thu thập vào Chi Uyển Di Biên quyển 2. Trước nghi quỹ thọ giới có chừng hai ngàn chữ thuyết minh phân biệt khai thị về nguyên do và chủng loại của Bồ Tát giới và nói về ý nghĩa của giới pháp, giới thể, giới hạnh, giới tướng. Về nội dung của nghi quỹ thọ giới, chưa đem giới tướng của 48 giới kinh vào, so với Truyền Giới Chánh Phạm là thiếu, nhưng trừ điều văn của 10 giới trọng đã liệt ra, giới khinh chỉ nói sơ lược ba điều : một là giới uống rượu, hai là giới ăn thịt, ba là giới ăn ngũ tân. Đây cũng có thể thấy duyên cớ Luật sư Linh Chi đặc biệt coi trọng ba điều giới khinh có quan hệ đến sự ăn uống này.

Theo tôi thấy, nọi dung bộ nghi quỹ của Luật sư Linh Chi biên đính đích xác là rất “hay đẹp và hoàn bị”. Văn tự giản dị, nôi dung đầy đủ, gần như đem các thứ yếu nghĩa và nghi tiết của Bồ Tát giới bao quát hết vào trong. Chỗ bất đồng lớn của nghi quỹ này với Truyền Giới Chánh Phạm là sự phô bày giới tràng đã có thể dùng cho nhiều người đồng thọ, cũng có thể dùng cho một người thọ. Đối với nhân số Giới sư cũng chủ trương chỉ thỉnh một vị A xà lê giáo giới thôi. Truyền Giới Chánh Phạm đồng như Tỳ kheo giới, phải thỉnh Tam sư đăng đàn, ở giữa là Bồ Tát Pháp sư, hai bên là 2 vị A xà lê, đây là căn cứ theo Phổ Hiền Quán Kinh. Vì thế, nghi quỹ của Luật sư Linh Chi không có thiết trí hình thức lớn lao. Còn có một điểm bất đồng nữa là Truyền Giới Chánh Phạm liệt kê 12 môn, Luật sư Linh Chi chỉ nêu ra 10 môn. Vì nội dung quá nhiều ở đây chỉ giới thiệu cương mục của 10 môn:

1. Cầu sư truyền pháp.

2. Thỉnh Thánh chứng minh.

3. Cầu Phật gia hộ.

4. Sách đạo khuyến tín.

5. Phát lồ sám hối.

6. Thỉnh sư cầu xin giới.

7. Lập thệ hỏi giá nạn.

8. Gia pháp nạp thể.

9. Thuyết tướng thị giới.

10.Thán đức phát nguyện.

3. Trùng Định Thọ Bồ Tát Giới Pháp.

Đây là pháp thọ giới Bồ Tát do Đại sư Ngẫu Ích biên đính, nội dung giản đơn mà thiết yếu, đáng tiếc là ít được lưu thông, lại ít có người ứng dụng, cho nên tôi đem toàn văn sao lục như sau để truyền bá rộng và ước mong có người ứng dụng. Nghi quỹ này đối với xã hội ngày nay thì tiếc kiệm được thời gian mà lại thọ giới đúng như pháp, thật là điều rất quý! Dưới đây là nguyên văn, phần trong dấu ngoặc là lời bạch của nghi quỹ, nguyên bản không có dấu ngoặc, dùng chữ nhỏ để chú, hiện tại vì phương tiện ấn loát nên đổi lại cùng dấu ngoặc, mong độc giả thông hiểu.

(Nếu các Bồ Tát muốn học Bồ Tát Tam tụ tịnh giới, hoặc tại gia, hoặc xuất gia trước hết đối với Vô thượng Bồ đề phát hoằng nguyện rồi, xét kỹ cầu Bồ Tát Pháp Sư công đức đầy đủ, có trí, có lực, trước lễ thầy, trịch áo bày vai hữu, quỳ gối chấp tay cung kính,thỉnh như sau):

(Đại đức ức niệm, con là …ở chỗ Đại đức xin thọ tất cả tịnh giới Bồ Tát, duy trong chốc lát không từ lao nhọc xót thương cho con được thọ (nói 3 lần).

(Đã thỉnh sư rồi, đi đến trước tượng đốt hương thành kính, hoặc thanh chúng cử bài Hương tán, hương tán xong nhất tâm cung kính, hướng thập phương Tam bảo chí thành lễ bái):

(Nhất tâm đảnh lễ quá khứ thế tận quá khứ tế nhất thiết chư Phật.

(Nhất tâm đảnh lễ vị lai thế tận vị lai tế nhất thiết chư Phật.

(Nhất tâm đảnh lễ hiện tại thế tận hiện tại tế nhất thiết chư Phật.

(Nhất tâm đảnh lễ quá khứ thế tận quá khứ tế nhất thiết tôn Pháp.

(Nhất tâm đảnh lễ vị lai thế tận vị lai tế nhất thiết tôn Pháp.

(Nhất tâm đảnh lễ hiện tại thế tận hiện tại tế nhất thiết tôn Pháp.

(Nhất tâm đảnh lễ quá khứ thế tận quá khứ tế nhất thiết Hiền thánh.

(Nhất tâm đảnh lễ vị lai thế tận vị lai tế nhất thiết Hiền thánh.

(Nhất tâm đảnh lễ hiện tại thế tận hiện tại tế nhất thiết Hiền thánh.

(Mỗi câu lạy một lạy, kế đến lại khiêm hạ cung kính, quỳ gối đối trước tượng Phật, chắp tay thỉnh sư):

(Duy nguyện Đại Đức xót thương truyền cho con tịnh giới Bồ Tát.

(Thỉnh rồi chuyên niệm một cảnh, trưởng dưỡng tịnh tâm, suy nghĩ như vầy: Tôi nghĩ chẳng bao lâu sẽ đắc vô tận vô lượng đại công đức tạng. Bấy giờ, Giới sư phải hỏi rằng):

(Thiện nam tử lắng nghe: Ông phải là Bồ Tát không?

Đáp: Phải.

(Phát bồ đề nguyện không?

Đáp: Đã phát.

(Thiện nam tử lắng nghe! Các ông nay muốn ở chỗ ta thọ chư Bồ Tát tất cả học xứ, thọ chư Bồ Tát tất cả tịnh giới, nghĩa là Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới, Nhiêu ích hữu tình giới. Học xứ như thế, quá khứ tất cả Bồ Tát đã đủ, vị lai tất cả Bồ Tát sẽ đủ, khắp mười phương hiện tại tất cả Bồ Tát hiện đang đủ.

Đối với học xứ này, đối với tịnh giới này, quá khứ tất cả Bồ Tát sẽ học, khắp 10 phương hiện tại tất cả Bồ Tát đang học, ông thọ được không?

Đáp: Thọ được

(Ba lần hỏi đáp như vậy xong, kế đó phải nói)

(Phật tử phải thọ tứ bất hoại tín.

(Từ đây trở xuống, ba tiết: Quy y, hối quá, phát nguyện đều phải tự nói. Nếu không tự nói được, Sư phải dạy nói):

(Từ nay cho đến tận vị lai tế, thân quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, quy chánh pháp giới (nói 3 lần).

Phật tử! kế đây phải sám hối tam thế tội :

(Nếu quá khứ, thân, miệng, ý, tội thập ác, nguyện cứu cánh không khởi, tận vị lai tế.

(Nếu hiện tại thân, miệng, ý, tội thập ác, nguyện cứu cánh không khởi, tận vị lai tế.

(Nếu vị lai, thân, miệng, ý, tội thập ác, nguyện cứu cánh không khởi, tận vị lai tế.

 (nói 3 lần)

Phật tử! Hối quá như thế rồi, ba nghiệp thanh tịnh như tịnh lưu ly trong ngoài chiếu sáng. Kế đó phát tứ hoằng thệ nguyện:

Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ.

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.

Pháp môn vô thượng thệ nguyện học.

Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

 (nói 3 lần)

Phật tử đã phát tứ hoằng thệ nguyện xong, tôi sẽ vì ông bạch ba phen chứng minh thọ giới. Ông nên nhất tâm lắng nghe và tác ý tư duy. Phải biết: Bạch lần đầu xong, mười phương thế giới diệu thiện giới pháp do tâm nghiệp lực thảy đều chấn động. Bạch lần thứ hai xong, mười phương thế giới diệu thiện giới pháp như mây như lọng phủ che trên đảnh ông. Bạch lần thứ ba xong, mười phương thế giới diệu thiện giới pháp từ đảnh môn của ông chảy vào thân tâm sung mãn chánh báo, tận vị lai tế hằng làm Phật chủng. Đây là vô tác giới thể, vô lậu sắc pháp, do thiện tâm tăng thượng của ông cảm được, thế nên ông phải chí thành đảnh thọ.

(Bấy giờ người thọ giới quỳ gối như cũ. Giới sư đứng dậy đối trước tượng Phật,cung kính cúng dường khắp 10 phương hiện tại Tam Bảo, đảnh lễ chắp tay bạch như vầy):

 ( Ngưỡng khải thập phương vô biên vô tế. Phật Bồ Tát trong các thế giới. Nay trong đây hiện có Bồ tát… ở chỗ Bồ tát tôi nói 3 lần thọ Bồ tát giới, tôi vì làm chứng. Duy nguyện thập phương vô biên vô tế chư Phật Bồ tát trong các thế giới là bậc chân thánh đệ nhất, hiện hoặc không hiện thân bậc Giác ngộ ở chỗ tôi đây tác chứng cho việc thọ giới Bồ tát ( nói 3 lần )

(Kế đó Giới sư ngồi lại tòa nói giới tướng của thập trọng và khuyên trì):

Thiện nam tử lắng nghe! Bồ tát có 10 vô tận giới, nếu có phạm, chẳng phải hạnh Bồ tát, mất 42 pháp Hiền thánh, ông nên thọ trì:

§ Từ thân này cho đến thân Phật, trong khoảng này không được cố sát sinh, trì được không?

Đáp: được

§ Từ thân này cho đến thân Phật, trong khoảng này không được cố trộm cướp, trì được không?

Đáp: được

§ Từ thân này cho đến thân Phật, trong khoảng này không được cố dâm, trì được không?

Đáp: được

§ Từ thân này cho đến thân Phật, trong khoảng này không được cố vọng ngữ, trì được không?

Đáp: được

§ Từ thân này cho đến thân Phật, trong khoảng này không được cốbán rượu, trì được không?

Đáp: được

§ Từ thân này cho đến thân Phật, trong khoảng này không được cố nói lỗi của Bồ tát tại gia, xuất gia, trì được không?

Đáp: được

§ Từ thân này cho đến thân Phật, trong khoảng này không được cố tự khen mình chê người, trì được không?

Đáp: được

§ Từ thân này cho đến thân Phật, trong khoảng này không được cố xan tham, trì được không?

Đáp: được

§ Từ thân này cho đến thân Phật, trong khoảng này không được cố giận hờn, trì được không?

Đáp: được

§ Từ thân này cho đến thân Phật, trong khoảng này không được cố phi báng Tam bảo, trì được không?

 Đáp: được

§ Phật tử! Thọ 10 vô tận giới rồi, người thọ giới vượt qua tứ ma, thoát khổ tam giới, đời đời không mất giới này, giới này thường theo người hành trì cho đến thành Phật. Phải biết tịnh giới này của Bồ tát đã thọ là tối thắng vô thượng, vô lượng vô biên đại công đức tạng đi theo, đệ nhất tối thượng thiện tâm ý lạc phát khởi, hay trừ diệt hết thảy các ác hạnh của tất cả hữu tình; tất cả biệt giải thoát luật nghi đối với Bồ tát luật nghi giới này trăm phần chẳng bằng một, ngàn phần chẳng bằng một số phần, kế phần, tóan phần, dụ phần, cho đến ô ba ni sát đàm phần (dịch là cận thiểu, nghĩa là vi trần, là phần cận thiểu của sắc) cũng chẳng bằng một, vì nhiếp thọ tất cả đại công đức.

(Người truyền và thọ Bồ tát giới đều đứng dậy và đảnh lễ thập phương Tam bảo, thanh chúng đồng tụng):

 Thọ giới công đức thù thắng hạnh

 Vô biên thắng phước đều hồi hướng

 Nguyện khắp các chúng sinh chìm đắm

 Chóng qua cõi Phật Vô Lượng Quang

 Thập phương tam thế hết thảy Phật

 Tất cả Bồ tát Ma ha tát

 Ma ha Bát nhã Ba la mật

(Lễ Tam bảo xong, người thọ giới Bồ tát phải lễ tạ Giới sư và chư đại chúng rồi cung kính lui ra)

 

LỜI BẠT

Xét thấy Tỳ kheo thọ giới, Luật có định pháp thức năm bộ tuy khác, nhưng phần lớn đồng, chỉ có chút phần nhỏ khác, cho nên phải chuyên tuân theo bộ Tứ Phần, bỏ bớt phần rườm rà. Pháp thọ Bồ tát giới, kinh luận đều riêng khác Phạm Võng, Anh Lạc, Địa Trì, Thiện Giới, và Tâm Địa Quán tùy theo trường hợp riêng biệt, tân tường hay sơ lược khác nhau. Thế nên chế chỉ, giáo hành v.v.. mỗi lọai giữ ý riêng của mình, lập theo khoa điều, tuy văn từ đẹp đẽ, ý nghĩa tinh tường, nhưng hoặc nghĩa vì văn mà ẩn, nên không thẳng tắt bằng kinh luận. Ngày nay, pháp thọ giới của Phạm Võng đã thất truyền, chỉ cón bóng dáng sơ sài. Duy có Địa Trì, Anh Lạc là y nguyên. Tôi châm chước ba bộ hội thành một pháp thức khiến cho rõ ràng, giản dị, để người truyền, người thọ đều được dễ dàng, khỏi vướng phải cái lỗi rườm rà.

Trên đây là toàn văn của pháp thọ Bồ tát giới do Đại sư Ngẫu Ích trùng định. Vì tôi nhận thấy đây là một loại nghi quỹ rất thiết yếu trong số những nghi quỹ thọ giới Bồ tát do Cổ đức biên định nên tôi không ngại nhọc mà sao lục tòan bộ ra đây đồng thời vì muốn độc giả hiểu rõ điểm xuất phát và mục đích của sự biên đính kia, nên tôi cũng sao lục cả lời bạt sau văn thọ giới.

Sau cùng tôi muốn giới thiệu một lọai pháp thọ Bồ tát giới của người gần đây do Pháp sư Tục Minh biên đính cũng giản đơn, thiết yếu. Pháp thọ giới của Đại sư Ngẫu Ích còn có khuyết điểm là chưa có liệt vào một môn“Vấn giá nạn”, nên chỉ có cái thiện của cảm giới mà không hỏi cái ác của chướng giới, trừ phi việc ấy trước đã phạm tội thất nghịch; bằng không thì không thể được. Trong pháp thọ giới của Pháp sư Tục Minh biên đính tất cả phân làm 12 môn, “Vấn giá nạn” là một môn trong số ấy. Đây là điều đáng nhận lấy.

................................

 

 

 

Chương 6. Sau Khi Thọ Bồ Tát Giới

 

I.TRÌ PHẠM VÀ ĐẮC THẤT CỦA BỒ TÁT GIỚI

Đã thọ Bồ tát giới rồi, phải hiểu rõ vấn đề để trì phạm và đắc thất. Chỗ bất đồng lớn nhất của Bồ tát giới là Thanh văn (Tiểu thừa) giới có hai điểm: Một là đối tượng trì giới, hai là thời gian thọ trì.

Chương trước đã nói sơ lược, Bồ tát tuy trì một giới, công đức còn lớn hơn Tiểu thừa trì cụ túc giới, vì mỗi giới của Bồ tát là “Vô tận giới”. Trì một giới tức là ở trên phần của tất cả chúng sinh được công đức trì giới cũng vô tận; vì thế, sự lớn lao của công đức thọ trì Bồ tát giới không có pháp nào tỷ dụ được. Thế nên, Kinh Anh Lạc quyển hạ nói: “Pháp sư hay ở trong tất cả quốc độ giáo hóa một người xuất gia thọ Bồ tát giới, phước của Pháp sư này hơn tạo 8 vạn 4 ngàn tháp”.

Lại nói: “Người thọ giới này được vào trong số Bồ tát ở cõi chư Phật, vượt qua cái khổ ba kiếp sinh tử” Lại nói: “Có mà phạm, còn hơn không có không phạm. Có mà phạm gọi là Bồ tát, không có không phạm gọi là ngọai đạo”.

Đủ biết công đức giáo hóa người khác xuất gia thọ Bồ tát giới so với công đức tự mình thọ Bồ tát giới lại càng lớn hơn. Có người cho rằng thọ giới cố nhiên công đức rất lớn, tội lỗi của phạm giới cũng rất lớn, chỉ sợ thọ giới rồi mà không thể kiên trì giữ gìn cho không phạm, vì thế không dám thọ giới, nhưng ở đây đã nói rõ: “Có mà phạm còn hơn không có không phạm “Tại sao vậy? Đây là công đức tác dụng của Bồ tát giới, bởi vì trì giới là giữ gìn đối với tất cả chúng sinh. Tỷ như phạm giới sát sanh, giả sử mỗi ngày giết, lúc nào cũng giết, cũng không thể giết hết chúng sinh; giết một chúng sinh chỉ ở trên thân một chúng sinh đắc tội. Vì thế lại nói: “Có phạm gọi là Bồ tát, không phạm gọi là ngọai đạo. Lại gọi Bồ tát giới là “42 pháp Hiền thánh”, nghĩa là Bồ tát của 42 ngôi vị (30 Hiền vị thêm 12 Thánh vị ) là do thọ trì Bồ tát giới mà được. Vì thế Kinh Hoa Nghiêm nói: “Giới là gốc Vô thượng Bồ đề”. Kinh Phạm Võng nói: “Chúng Bồ tát nhiều như vi trần do giới này thành Chánh giác”.

Vấn đề thứ hai là thời gian thọ trì, Tiểu thừa giới có năm thứ nhân duyên xả, mất giới thể: 1. Mạng chung (chết), 2. Hai hình (bộ sinh dục nam nữ biến tánh), 3. Đọan thiện căn, 4. Tác pháp (đối với Tỳ kheo đồng pháp hiểu lời nói cho đến một người tục tuyên bố xả giới), 5. Phạm giới trọng (phạm 4 giới căn bản). Nhưng Bồ tát thì bất đồng. Bồ tát giới không phải là “suốt đời thọ trì “mà là tận vị lai tế thọ trì, vì thế mạng chung không xả giới. Bồ tát không cự tuyệt người tánh tội và biến tánh, vì thế, người hai hình không mất giới. Bồ tát giới chỉ có hai trường hợp mất giới: Một là phạm giới trọng, hai là cố ý xả Bồ đề tâm. Phạm giới trọng có hai lọai: Một là phá trọng giới, là do thượng phẩm phiền não triền phạm (như cố ý giết người), hai là ô trọng giới, là do trung phẩm phiền não triền phạm (như lầm giết người, không cố ý mà ngộ sát). Phá trọng giới thì mất Bồ tát giới, ô trọng giới còn có thể y pháp sám hối. Nói về thượng phẩm phiền não triền phạm, trong Luận Du già nói: “Nếu Bồ tát hủy phạm bốn pháp tha thắng xứ, luôn luôn hiện hành, không biết hổ thẹn, lại còn rất ưa thích, cho đó là công đức, phải biết đây gọi là thượng phẩm triền phạm”. Cố xả bỏ đại Bồ đề tâm tức là tuyên bố với người khác rằng: Tôi không làm Bồ tát nữa hoặc không tin có Bồ tát hạnh, hoặc cho rằng Đại thừa không hay bằng Tiểu thừa và không học pháp Đại thừa cho đến không tin Phật pháp mà tin ngọai đạo. Đây đều thành nhân duyên xả Bồ tát giới.

Ưu bà tắc Giới Kinh quyển 7 nói : “Xả giới có 6 lọai: 1. Lúc đọan thiện căn, 2. Lúc được 2 căn nam nữ, 3. Lúc xả thọ mạng (chết ), 4. Lúc thọ ác giới (như phát thệ làm chức nghiệp hung thủ), 5. Lúc xả giới, 6. Lúc xả thân Dục giới”. Nhưng chúng ta đã nói qua, Ưu bà tắc giới không thể xem là Bồ tát giới, vì thế nó có một cách nói riêng biệt.

Trên thực tế, Kinh Anh Lạc nói : “Bồ tát giới là có phạm không mất”. Sau khi đã thọ Bồ tát giới, đời đời cho đến thành Phật đều vĩnh viễn theo nhau, bởi vì giới thể là một thứ vô lậu sắc pháp (thể vật chất), không hình trạng, không biểu tượng. Sau khi nó được huân trên bản tánh lý thể của chúng ta, chỉ có thể bị ngăn che chứ không thể bị thất lạc. Nói phạm giới trọng thì mất giới là nói vì bị ngăn che của pháp ác mà mất đi công năng của giới thể, chứ không phải là giới thể trên bản tánh lý thể của chúng ta bị thất lạc, đây là điều cần phải hiểu rõ. Vì thế, Kinh Phạm Võng cho người phạm mười giới trọng ở trước tượng Phật sám hối tội lỗi, thấy hảo tướng được thọ giới lại. Kinh Anh Lạc nói thẳng: Mười giới trọng có phạm, không có sám hối, nhưng được cho thọ lại”. Du già cũng nói: “Từ thượng phẩm triền phạm pháp tha thắng xứ như trên, mất giới luật nghi, phải thọ lại”. Ở đây sở dĩ bảo “thọ lại” là nhờ sức Phật, Bồ tát bên ngoài dẫn phát giới thể đã được huân từ trước khiến cho khôi phục lại công năng của giới lực mà thôi.

Chính vì Bồ tát giới là tận vị lai tế thọ trì, nên sau khi chuyển sinh, đa số chúng sinh tuy không nhớ được mình đã tận thọ giới, dù công năng của giới đã ẩn mất, nhưng giới thể ấy vẫn tồn tại trong tánh thể, vì thế vẫn có thể gặp duyên mà “tăng ích thọ giới” (thọ giới nữa). Nếu như chuyển sinh mà không có duyên thọ lại cho đến cũng không nhớ mình đã từng thọ, công năng của giới thể này vẫn sẽ có cơ hội hiển hiện, chỗ gọi là thiện căn, thì đây cũng chính là một thứ thiện căn.

Nhưng Kinh Anh Lạc nói: “Giới thể của Bồ tát phàm thánh, đều lấy tâm thể, thế nên tâm tận thì giới cũng tận, tâm vô tận thì giới cũng vô tận”. Có người thấy thế bèn cho rằng: Giới thể là tâm pháp (tinh thần) mà không phải sắc pháp (vật chất). Sự thật không phải vậy, nói tâm tận và vô tận là chỉ bồ đề tâm, xả Bồ đề tâm là tâm tận, công năng giới thể cũng tận; phát đại Bồ đề tâm là tâm vô tận, công năng giới thể cũng vô tận. Cho nên tôi cho rằng: Phá trọng giới là giới thể của ta bị ngăn che, xả bỏ Bồ đề nguyện mới là đem vô lậu sắc pháp của giới thể xóa mất

II. PHÁP HỐI QUÁ CỦA BỒ TÁT

Phạm trọng giới, Kinh Anh Lạc nói: “Có phạm, không có hối” là không thể hối quá. Điều giới khinh thứ 41 của Kinh Phạm Võng nói: “Nếu phạm 10 giới trọng phải dạy sám hối: ở trước hình tượng Phật Bồ tát ngày đêm 6 thời tụng 10 giới trọng, 48 giới khinh, siêng năng khó nhọc, lễ lạy tam thế ngàn Phật cầu được thấy hảo tướng. Nếu 7 ngày, 14 ngày, 21 ngày cho đến 1 năm phải thấy hảo tướng. Hảo tướng là thấy Phật đến xoa đầu, thấy ánh sáng, thấy bông hoa, các tướng lạ bèn đươc diệt tội”. Về Phạm giới khinh thì Kinh Phạm Võng nói: “Nếu phạm 48 giới khinh, đối thú sám hối tội diệt”.

Phương pháp sám hối giới trọng chỉ thấy một thứ như thế. Sám hối giới khinh, Phạm Võng chỉ nói: “Đối thú sám”. Anh Lạc cũng chỉ nói: “Được cho đối thú sám hối diệt tội” Còn làm thế nào để đối thú sám hối? Điều văn của Du già Giới Bổn có nói như sau:

“Nếu có vi phạm, phải đúng như pháp mau mau hối trừ để được thanh tịnh trở lại.

Như vậy, tất cả điều Bồ tát vi phạm phải biết đều thuộc về ác tác, phải hướng về Bổ đặc già la (hữu tình chúng sinh) có năng lực, dùng lời nói biểu đạt được nghĩa, hay giác, hay thọ Đại thừa, Tiểu thừa mà phát lồ sám hối diệt tội.

Nếu trung phẩm triền phạm pháp tha thắng xứ như trên, phải đối trước ba Bổ đặc già la, hoặc nhiều hơn số đó, phải làm như pháp phát lồ trừ ác, trước phải thuật lại việc đã phạm, và bạch như vầy :”Trưởng lão! Chuyên chí”; hoặc nói: “Đại đức! Con tên là…vi việt pháp Bồ tát Tỳ nại đa, như pháp thuật lại sự việc phạm tội ác tác. “Ngòai ra, như pháp Bí sô phát lồ sám hối diệt tội ác tác, cũng phải nói như vậy.

Nếu hạ phẩm triền phạm pháp tha thắng xứ như trên và những sự vi phạm khác phải phát lồ trước một Bồ đặc già la, pháp sám hối cũng giống như trước

Nếu không tùy thuận Bổ đặc già la để phát lồ hối trừ tội đã phạm, bây giờ Bồ tát đem tâm ý ưa thích thanh tịnh, khởi tâm tự thệ: Tôi sẽ quyết định phòng giữ đương lai không phạm lại nữa. Như vậy đối với tội phạm, được thanh tịnh trở lại”.

Căn cứ vào sự thuyết minh này và bộ Bồ tát Giới ThọTùy Cương Yếu Biểu của Đại sư Hoằng Nhất, pháp hối quá của Bồ tát có thể liệt vào biểu đồ như sau:

 

Bất luận giới trọng hay giới khinh, phạm giới đều có hai tội căn bản và phương tiện bất đồng. Căn bản là tội đã tọai, còn phương tiện là chuẩn bị hoặc tiến hành phạm giới mà chưa hòan thành sự thật phạm giới. Đối tượng của hối tội, tốt nhất là chúng Bồ tát thanh tịnh đồng pháp; nếu không có Bồ tát đối với Tiểu thừa Tỳ kheo sám hối cũng đươc. Sám pháp phân làm ba lọai :Một là đối với 4 người (Du già giớiBổn nói 3 người )hoặc 4 người trở lên sám. Hai là đối với một người sám. Ba là tự trách tâm sám.Những lời tác bạch đối với 4 người sám và 1 người sám đồng. Vì thế, lời tác bạch sám hối phân làm hai lọai: một là đối với người bạch sám, hai là tự một mình bạch sám.

1. Sám pháp đối người

Lúc sám phải đủ oai nghi, quỳ gối chấp tay bạch với người thọ sám:

Chư Đại đức nhất tâm niệm, con là…cố (nói tên giới đã phạm) phạm Ba la di tội.Nay hướng Đại đức phát lồ sám hối không dám làm nữa, xin Đại đức ức niệm cho con (nói 3 lần).

Sám hối chủ hoặc người thọ sám quở ttrách rằng: “Tự trách tâm ông, sinh nhàm lìa”.

Người sám đáp: Xin vâng.

2. Sám pháp trách tâm

Người sám phải đủ oai nghi, sinh tâm hổ thẹn, đối với chính mình tự bạch: “Con là…..cố (nói tên giới đã phạm) phạm Ba la di, khinh phương tiện (hoặc khinh cấu tội), con nay trách tâm hối quá”. (nói 1 lần).

Nếu có phạm giới phải tùy phạm tùy hối. Nếu như việc gấp hoặc số người không đủ, ở mỗi nửa tháng thuyết giới Bố tát cần phải sám hối cho thanh tịnh. Bằng không, có phạm bất tịnh mà nghe thuyết giới bèn thành tội phú tàng. (che giấu).

Thiện Giới Kinh nói: “Nếu Tỳ kheo phạm Ba dật đề không thẹn, không hối, nghe Bồ tát giới đắc tội Thâu lan giá. Nếu phạm Thâu lan giá không thẹn, không hối, nghe Bồ tát giới thì đắc tội Tăng tàn.

Nếu phạm Tăng tàn, không thẹn không hối, nghe Bồ tát giới thì đắc tội Ba la di. Đây là duyên cớ Bồ tát phú tàng, tội nặng hơn bổn tội. Đây là một lệ của Bồ tát giới nặng hơn Thanh văn giới, và đây cũng là một sự kiện mà người thọ Bồ tát giới không thể không biết.

III. THUYẾT GIỚI BỐ TÁT CỦA BỒ TÁT

Cuối đời Minh, Luật sư Hoằng Tán trong Phạm Võng Lược Sớ nói:

“Bồ tát không có pháp yết ma, lúc Bồ tát thọ giới cũng không có yết ma” Lại nói: “Bồ tát thuyết giới không gọi là thuyết giới yết ma, chỉ gọi là thuyết giới Bố tát”. Lại nói: “Người có tội chưa sám và người chưa thọ Bồ tát giới đều không cho cùng làm Bố tát”.

Pháp yết ma là một thứ pháp nghị sự riêng có của Thanh văn tăng, cũng là một thứ quỹ tắc Tăng đòan trụ trì, Phât pháp trụ thế. Bồ tát có trách nhiệm hóa độ thế gian, có trách nhiệm hộ trì Phật pháp mà ít có trách nhiệm chủ trì Phật giáo. Nếu như Bồ tát Tỳ kheo thì vẫn lấy thân phận Tỳ kheo trụ trì Phật giáo, chứ không phải thân phận Bồ tát trụ trì Phật giáo

Bố tát là dịch âm của Phạn ngữ: Posadha, có nghĩa là thanh tịnh tam nghiệp và trưởng dưỡng công đức còn có nghĩa là Tịnh trụ. Thuyết giới nửa tháng một lần Đại thừa, Tiểu thừa giống nhau, nhưng Tiểu thừa gọi là Yết ma, Đại thừa gọi là Bố tát.

Kinh Phạm Võng nói: “Phật bảo các Bồ tát rằng: Nay ta cứ mỗi nửa tháng tự tụng giới pháp chư Phật, các ông và tất cả Bồ tát phát tâm cũng tụng”. Lại nói: “Nếu người thọ Bồ tát giới không tụng giới này thì không phải là Bồ tát, không phải chủng tử Phật”.Điều giới khinh thứ 37 của Phạm Võng cũng nói: “Nếu ngày Bố tát, tân học Bồ tát mỗi nửa tháng Bố tát, lúc tụng 10 giới trọng 48 giới khinh phải ở trước hình tượng Phật, Bồ tát, một người Bố tát, một người tụng; nếu hai người, ba người cho đến trăm ngàn người cũng một người tụng. Người tụng ngồi cao, người nghe ngồi thấp”. Điều giới khinh thứ 38 lại nói: “Phải ngồi thứ tự đúng như pháp, người thọ giới trước ngồi trước, người thọ giới sau ngồi sau”. Đây là nói tân học Bồ tát phải nửa tháng Bố tát, vì sám tội để thanh tịnh tam nghiệp, nhờ tụng giới mà trưởng dưỡng công đức. Nhưng đối với sự tụng giới không hạn cuộc nửa tháng một lần, có thể mỗi ngày tụng cho đến luôn luôn tụng, tối thiểu là nửa tháng tụng một lần, nếu không tụng thì “Không phải là Bồ tát, chẳng phải là chủng tử Phật”.

Veà pháp Bố tát của Bồ tát giới, đại khái đồng với thuyết giới yết ma của Thanh văn. Nếu đông người, vị Đương trị đánh bảng họp chúng, Duy na kiểm điểm số người, rồi bảo người chưa phát tâm Bồ tát, chưa thọ Bồ tát giới ra. Kế đó thỉnh Thượng tọa dâng hương, lên tòa.Kế tiếp hỏi có phạm, không phạm.có hối, không hối, rồi thỉnh người tụng rành rẽ, âm thanh rõ ràng lên tòa cao tụng giới. Nghi tiết đầy đủ có thể tham khảo pháp Bố tát ghi trong Thiên Thai Bố tát GiớiSớ quyển hạ của ngài Minh Khoáng. Nếu như một người tụng, Bồ tát xuất gia phải đắp 3 y cà-sa cửu điều, thất điều, ngũ điều. Sau khi ở trước Phật dâng hương lễ bái xong, quỳ gối trước Phật để tụng, hoặc ngồi tụng, đây là việc rất dễ làm.

Đối với vấn đề tụng giới của Bồ tát Tỳ kheo và Bồ tát tại gia, trong Giới Sớ của Ngài Nghĩa Tịch có nói: “Bồ tát Tăng Ni nửa tháng phải hai bên Bố tát tụng hai bổn Đại, Tiểu; không tụng phạm tội khinh cấu, Bồ tát tại gia nếu trong nhà có tịnh thất nửa tháng phải tự tụng. Nếu không có tịnh thất, mà trong 1 do tuần (10 km đến 15 km) có tự viện, tịnh xá làm Bồ tát Bố tát phải qua nghe, nếu không đi nghe, phạm khinh cấu.Nếu trong nhà huyên náo và trong 1 do tuần không có Bồ tát Bố tát tập hội thì không phạm”.

Thiên này viết đến đây là kết thúc, do tài hèn sức kém, tuy viết hơn 4 vạn chữ mà vẫn chưa trình bày được hết nội dung của Bồ tát giới. Chúng tôi chỉ mong độc giả đọc xong thiên này có một khái niệm tổng quát về Bồ tát giới.

Ở Trung Quốc chú sớ nhiều đời nghiên cứu về Bồ tát giới phần đông lấy Phạm Võng Kinh Giới Bổn làm chủ yếu, hiện còn Phạm Võng Chú Sớ trong Đại ChánhTạng và Tục Tạng chữ Vạn có ước chừng 20 loại, độc giả nếu thích có thể căn cứ vào kết cấu bố cục của thiên sách này chỉ dẫn để tự nghiên cứu thêm.

 

HT. Thánh Nghiêm

Thích Nữ Tuệ Đăng dịch Nhà Xuất Bản Thời Đại

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: của bồ, bồ tát, người
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới Thiệu:

    Chùa Sắc Tứ Khải Đoan là ngôi chùa đầu tiên của tổ chức Phật Giáo có mặt tại Đaklak, được xây dựng vào năm 1951. chùa tọa lạc trên khu đất rộng 7 mẫu 8 sào 28m2, do Đoan Huy Hòang Thái Hậu Hòang Thị Cúc hiến cúng cho Tổng Hội Phật Giáo trung phần.

Thông báo

Ảnh chùa

Số Lượng truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 26

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 24


Hôm nayHôm nay : 159

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 93448

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3911376