Cương Yếu Giới Luật (P2)

Chủ nhật - 04/09/2011 14:55
Cương Yếu Giới Luật (P2)

Cương Yếu Giới Luật (P2)

Một đoàn thể có tổ chức, có lý tưởng, có thành viên, phải có quy ước hoặc hiến chương của tổ chức ấy. Một tổ chức kiện toàn hay không chỉ cần xem các nội dung của quy ước hoặc hiến chương của nó có kiện toàn hay không. Một tổ chức có thành tích biểu hiện trác việt hay không, cũng do lý tưởng ở trong quy ước hoặc hiến chương định đoạt. Tất cả xã hội đều y theo lý tưởng riêng chế định quy ước hoặc hiến chương, nhưng muốn biết quy ước hoặc hiến chương có sinh ra được hiệu lực hay không còn phải xem nhân viên trong tổ chức đối với quy ước hoặc hiến chương kia có bảo vệ hoặc tuân hành hay không.

 

THIÊN THỨ BA. Ngũ Giới Và Thập Thiện

 

Chương 1: Ngũ Giới Và Nội Dung Của Ngũ Giới

 

I. NGŨ GIỚI LÀ GÌ?

Một đoàn thể có tổ chức, có lý tưởng, có thành viên, phải có quy ước hoặc hiến chương của tổ chức ấy. Một tổ chức kiện toàn hay không chỉ cần xem các nội dung của quy ước hoặc hiến chương của nó có kiện toàn hay không. Một tổ chức có thành tích biểu hiện trác việt hay không, cũng do lý tưởng ở trong quy ước hoặc hiến chương định đoạt. Tất cả xã hội đều y theo lý tưởng riêng chế định quy ước hoặc hiến chương, nhưng muốn biết quy ước hoặc hiến chương có sinh ra được hiệu lực hay không còn phải xem nhân viên trong tổ chức đối với quy ước hoặc hiến chương kia có bảo vệ hoặc tuân hành hay không.

Trường học có học quy, đảng phái có đảng quy (điều lệ đảng), học sinh có công ước tự trị. Cơ cấu huấn luyện có phép tắc học viên phải giữ, đảng phái có phép tắc đảng viên phải giữ; quân nhân, trừ quân pháp quân kỷ ra còn có phép tắc quân nhân phải giữ, thiếu sinh quân cũng có tín điều của thiếu sinh quân. Suy ra các công ước của quốc tế cho đến Hiến Chương Liên Hiệp Quốc đều đồng một tính chất. Mục đích chẳng ngoài nói về quyền lợi, nghĩa vụ và lý tưởng chung cùng theo đuổi của các phần tử hợp thành tổ chức.

Nhưng trên thế gian, dù công ước nào hiến chương nào cũng chẳng tồn tại mãi, cũng chẳng vĩnh cửu bất biến. Chỉ có giới luật của tín đồ tôn giáo là ngoại lệ. Tính chất của giới luật, tuy cũng tương tự như hiến chương công ước hoặc phép tắc phải giữ của tất cả các tổ chức xã hội, nhưng một tôn giáo có thể chẳng suy và càng truyền càng rộng cũng phải xem nội dung giới luật của tôn giáo ấy mà định. Từ khi có lịch sử đến nay, nhân loại trên thế giới đã trải qua không biết bao nhiêu tôn giáo. Nhưng, tôn giáo được nhân loại công nhận chỉ một số ít có thể đếm được. Bởi vì công dụng của giới luật chẳng những phòng ngừa sự hư hỏng của tín đồ, mà lại còn tăng tấn hạnh phúc của nhân loại đại chúng cho đến tất cả chúng sinh. Bằng không, tự nhiên cũng bị đào thải.

Tuy nhiên trừ Phật giáo ra, không có một tôn giáo nào khác có thể thích dụng với ý nghĩa của giới luật như nội dung của Phật giáo, song chúng ta lại không thể phủ nhận bộ phận giới luật của tôn giáo khác cũng có tác dụng.

Hai chữ Giới Luật là chữ Trung Quốc, ý nghĩa của hai chữ Giới Luật cũng khác nhau. Giới là điều chẳng nên làm. Luật là điều nên làm. Giới là chẳng nên. Luật là phải nên. Như vậy, Giới là sự gìn giữ của mỗi người, Luật là hoạt động của đoàn thể. Vì thế trong Phạn văn, Giới gọi là Thi la (Si la), Luật gọi là Tỳ nại da (Vinaya). Nhưng có lúc cũng đem hai nghĩa giới luật dùng chung, cho nên cũng không cần cắt đôi hai chữ giới luật ra định nghĩa.

Truớc tiên ta cần giảng chữ giới. Chữ giới nghĩa là điều không nên làm thì đừng làm, cho nên cũng là một thứ hạn chế thuộc tiêu chuẩn đạo đức. Như thông thường nói giới cờ bạc, giới hút sách, giới uống rượu v.v… là một thứ hành vi câu thúc.

Chúng ta đã biết giới không phải là điều Phật giáo riêng có, các tôn giáo khác cũng có giới quy hoặc giới mệnh. Nhưng giới của Phật giáo cùng giới của tôn giáo khác chẳng hoàn toàn đồng nhau.

Chúng ta cần phải hiểu rõ một nguyên tắc là bất cứ tôn giáo cao cấp nào hữu ích cho nhân loại, tôn giáo ấy đều chẳng thể trái với tiêu chuẩn đạo đức của nhân lọai. Do đó, giới luật đươc chế ra cũng không sai biệt nhiều. Tuy nhiên, giới luật của Phật giáo có nhiều cấp bực từ thấp đến cao, dù là cấp bực thấp nhất cũng vượt lên trên tất cả tôn giáo. Trong đó, ngũ giới là nền tảng của tất cả giới luật, nhưng giới mục của ngũ giới không có xa lạ gì với sinh họat bình thường của con người. Thời cổ đại ở Ấn Độ, các tôn giáo đều có ngũ giới nên đại thể đều tương đồng, như 5 giới sau trong 10 giới của Cơ Đốc giáo cũng vậy. Nay phân biệt nêu ra như sau:

1. Ngũ giới của Phật giáo: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu

2. Ngũ giới của Ma na Pháp điển: Không sát sinh, không vọng ngữ, không trộm cắp, không phi phạm hạnh (không dâm), không tham sân.

3. Ngũ giới của Bao đạt dạ na Pháp điển: Không sát sinh, không vọng ngữ, không trộm cướp, nhẫn nại, không tham.

4. Ngũ giới của Tiền Đa Khư Da, Áo Nghĩa Thư: Khổ hạnh, từ thiện, chánh hạnh, không sát sinh, thật ngữ.

5. Ngũ giới của Kỳ na giáo: không sát sinh, không trộm cướp, không vọng ngữ, không dâm, ly dục.

6. Ngũ giới của Du già phái: không sát sinh, không vọng ngữ, không trộm cướp, không tà dâm, không tham.

7. Năm giới sau của Cơ Đốc giáo: Đừng giết, đừng trộm, đừng dâm, đừng vọng chứng, đừng tham của cải người khác.

Do sự so sánh ở trên có thể biết điểm đặc sắc của ngũ giới Phật giáo là không uống rượu, các tôn giáo khác không có giới rượu, vì Phật giáo trọng trí huệ, uống rượu khiến cho người ta say sưa hôn mê (tai hại của rượu, tiết thứ 2, điều thứ 5 sẽ nói kỹ) vì thế không cho uống rượu. Tham dục, tham sân của các tôn giáo khác nêu ra, không phải hành vi mà là hiện tượng tâm lý, trong ngũ giới của Phật giáo thật đã bao gồm hết (sẽ nói kỹ ở tiết thứ 2, điều thứ 5).

Từ xưa đến nay ở Trung Quốc có nhiều người chủ trương thuyết Nho Thích Đạo tam giáo đồng nguyên, sớm nhất là thấy trong Lý Hoặc Luận của Mâu Tử đời Hậu Hán đem ngũ giới của Phật giáo phối hợp với ngũ thường. Sự phối hợp này có những ý kiến bất đồng như:

1. Thiên thai Nhân Vương Kinh Sớ phối hợp không sát sinh với nhân, không trộm cắp với trí, không tà dâm với nghĩa, không uống rượu với lễ, không vọng ngữ với tín.

2. Chỉ Quán quyển 6 phối hợp không sát sinh với nhân, không trộm cướp với nghĩa, không uống rượu với lễ, không vọng ngữ với trí, không tà dâm với tín.

3.Cách phối hợp thông thường là không sát sinh phối hợp với nhân, không trộm cướp phối hợp với nghĩa, không tà dâm phối hợp với lễ, không vọng ngữ phối hợp với tín, không uống rượu phối hợp với trí.

Nhưng ở đây, phương pháp phối hợp ngũ giới của Phật giáo với ngũ thường của Nho giáo chỉ có thể nói về tiêu chuẩn đạo đức của nhân gian có một xu thế tiếp xúc tương đối gần gũi, chứ chẳng nên nói là tuyệt đối thích đáng. Chẳng nói giới nào khác, chỉ nói một giới không uống rượu thôi, tuy gồm có tinh thần lễ và trí, song lễ và trí của Nho giáo chẳng đồng với giới không uống rượu của Phật giáo, bởi trên thực tế Nho giáo không cấm uống rượu.

Nói đến chỗ này, chúng ta có thể phân biệt sự ưu liệt cao thấp của giới. Qua cái nhìn của Phật giáo, giới có thế giới (giới của thế gian chế) và đệ nhất nghĩa giới (giới của Phật chế) chẳng đồng. Trừ giới của Phật chế ra, tất cả đều là giới của thế gian chế. Sự bất đồng của Phật giới và giới của thế gian là tại điểm xuất phát và mục đích khác nhau. Các tôn giáo khác giữ giới là tuân theo ý chí của Thượng đế hoặc thánh thần, như tín đồ Cơ Đốc giáo vâng theo 10 giới, bởi vì đó là mệnh lệnh của Thượng đế tuyên bố, nên chẳng tuân giữ là chống lại Thượng đế, làm cho Thượng đế nổi giận. Phật giáo không phải như vậy Phật giới tuy do Phật chế, song tuân giữ là ở tại mỗi người, Đức Phật chế giới cũng là căn cứ vào ý chí của chúng sinh chứ chẳng ép buộc người nào, giữ giới chẳng phải vì Phật mà là ý chí tự do mỗi người muốn giữ. Như ăn cơm là việc chính của mỗi người, ăn xong tự mình no, không ăn tự mình đói, không quan hệ chút nào với người khác. Nhưng Đức Phật với tấm lòng đại trí đại bi, dù chẳng thay thế chúng sinh ăn cơm được, Ngài cũng khuyên nhủ và hướng dẫn chúng sinh ngu si đói khát đi ăn cơm (dụ cho giữ giới). Đây là điểm bất đồng thứ nhất giữa Phật giới và giới của thế gian.

Thông thường, giới của thế gian, hơn phân nửa là thiên về một mặt. Như tín đồ Cơ Đốc giáo giữ giới ( giới là giới của nghi thức giáo huấn ) là vì cầu được sự sủng ái của Thượng đế và hy vọng sau khi bỏ thân này, được vào Thiên Quốc của Thượng đế. Mục đích giữ giới của họ chẳng vì tạo thành hạnh phúc an lạc của nhân gian mà vì đạt ý muốn sinh lên trời, vì thế thiên về hành vi bi thương hoặc nói là xuất thế (theo Phật pháp nói giả sử họ được sinh lên trời cũng thật chưa là xuất thế). Do đó, họ luôn luôn vì lý do Thiên Quốc mà phủ định sự hòa bình an lạc của nhân gian, cho nên chiến tranh tôn giáo cũng do đây mà ra. Còn như Nho giáo (thật ra Nho gia chẳng phải là Nho giáo, vì Nho giáo vốn chẳng thành tôn giáo) đối với sự tuân giữ cương thường luân lý là tạo thành hạnh phúc và hòa bình an lạc của nhân gian, song lại chẳng hướng về hình nhi thượng hoặc xuất thế, vì thế nó thiên về hiện thực. Chỉ có sự tuân giữ Phật giới của tín đồ Phật giáo vừa là tạo phước nhân gian cũng là tìm cầu cảnh giới xuất thế, vì thế trên Phật giáo sử chỉ có ghi chép nhẫn nhục và hy sinh chứ không có việc chiến tranh và đẫm máu, đây là điểm bất đồng thứ hai của Phật giới và giới thế gian.

Thường thường giới thế gian chỉ có sự tuân giữ về hình thức nhưng không có nhận được giới thể, thế nên không có phân biệt được giới tội và tánh tội. Như 10 giới của Cơ Đốc giáo chẳng phải chỉ tín đồ Cơ Đốc giáo có, Cơ Đốc giáo cho rằng Thượng đế chế ước cho nhân loại, bất luận tin hay không tin đều ở trong phạm vi của chế ước này, người tin cố nhiên phải giữ, người chưa tin cũng chẳng thể chăng giữ; nếu chẳng giữ, tội lỗi cũng đồng với người đã tin. Phật giới không như vậy. Phật giới là do Phật chế, sự thọ giới của đệ tử Phật phải là sự truyền thọ. Xét về sự truyền thừa và nạp thọ giới thể, chỉ có người đã thọ giới rồi mới đem giới truyền cho người khác được. Giới thể này là trực tiếp truyền từ Đức Phật, thọ giới mà nhận được giới thể là nạp thọ Pháp thân Phật vào trong tâm tánh của chính mình, vì Pháp thân Phật tiếp thông với Pháp thân sẵn có của mọi người, vì dẫn đạo sự phát minh hoặc chứng ngộ tự tánh là Phật của mỗi người. Thọ Phật giới rồi mà lại phá giới là đồng với phá Pháp thân Phật, vì thế tội lỗi rất lớn. Người không có thọ giới tuy làm ác nhưng chẳng phải phá giới, bản thân làm ác tuy là tội lỗi mức độ tội lỗi lại không to, không nặng bằng người thọ giới phá giới. Đây là biết pháp, phạm pháp thì tội hơn một bực, tánh tội của làm ác (vốn là tội) lại thêm giới tội của phá giới. Trong Phật pháp, phá giới là phá Pháp thân Phật (Tam thế chư Phật và tự tánh là Phật), vì thế mức độ của giới tội lớn hơn tánh tội rất nhiều. Đây là điểm bất đồng thứ ba của Phật giới và giới thế gian.

Thường thường, giới thế gian chỉ dạy người trừ bỏ hành vi phải ngăn cấm mà chẳng hình thành được một hệ thống luận lý. Phật giới được xếp vào một Tạng trong Tam tạng của Phật giáo, cùng với Kinh tạng, Luận tạng đứng vững như cái đảnh ba chân và lấy Luật tạng chuyên môn nói về giới làm then chốt cho Phật pháp trụ thế. Vì thế, có một hệ thống hoàn bị. Tỷ như đem sự cấu thành của giới phân làm 4 khoa mục lớn là giới pháp, giới thể, giới hạnh, giới tướng, nếu thiếu một thì chẳng được gọi là trì giới. Giới pháp là pháp quy của Phật chế. Giới thể là một mạch truyền thừa vô biểu sắc pháp của các sư truyền thọ cho nhau, đó là công đức sở huân. Giới hạnh là do hành vi trì giới biểu hiện ra. Giới tướng là hiện tượng sai biệt của hành vi trì giới biểu hiện ra. Nếu như chẳng đầy đủ được 4 điều kiện ( thường gọi là 4 khoa), thì tuy không sát sinh, không trộm cướp, cho đến không uống rượu, cũng chỉ được xem là giữ giới thế gian mà chẳng phải là Phật giới, công đức giữ gìn giới thế gian là hữu hạn. Đây là điều bất đồng thứ tư của Phật giới và giới thế gian.

Ở đây xin hỏi: Tin Phật, tại sao cần thọ giới?

Trong thiên quy y Tam Bảo đã nói về tính chất trọng yếu của tam quy. Người tin Phật có quy y Tam bảo giống như sự ghi tên đăng ký của học sinh nhập học, nhưng ghi tên đăng ký chẳng bằng đi học. Sau khi quy y Tam bảo, nhận được Phật giới mới là bước đầu của con đường thành Phật. Quy y Tam bảo chỉ là công đức chuẩn bị của sự học Phật, thành Phật mà thôi. Lại vì trong quá trình học Phật là xa xôi diệu vợi, trình độ phát tâm học Phật có cao thấp, vì thế chúng ta tin Phật và thọ Phật giới cũng có nhiều thứ lớp. Thứ lớp của Phật giới tuy nhiều nhưng đều lấy ngũ giới làm nền tảng. Ngũ giới tuy là từng lớp thấp nhất của Phật giới, song như cất lầu trước chẳng xây móng thì ý muốn cất lầu rốt cuộc chỉ là mộng tưởng. Vì thế có người nói :”Pháp ngũ giới là cha của ba đời chư Phật, y ngũ giới mà sinh ra thập phương tam thế tất cả chư Phật”.

II. NỘI DUNG CỦA NGŨ GIỚI

Mục đích chế giới của Đức Phật là hi vọng đệ tử trì giới đúng như pháp, tác dụng của sự trì giới đúng như pháp là làm tăng trưởng công đức, nhưng công đức này được phát khởi, đều là do bi tâm nung đúc và trưởng dưỡng. Xem mặt ngoài của ngũ giới thì thấy chỉ là tiêu cực chẳng làm ác, mà không có tác dụng tích cực làm thiện. Thật ra chẳng phải vậy. Nếu xét kỹ hơn, chúng ta sẽ thấy giữ gìn ngũ giới thật đã là bao hàm vô hạn bi tâm; bi tâm có thể hiểu là sự mở rộng của tâm đồng cảm; đây là tâm đồng cảm suy từ mình đến người và đến tất cả chúng sinh. Nhân vì mình không chịu bị người khác sát hại cho nên có giới không sát sinh. Nhân vì chẳng chịu của cải tài sản của mình bị người trộm cướp, vì thế biết người khác cho đến tất cả chúng sinh đều có tâm chẳng chịu bị trộm cướp cho nên có giới không trộm cướp. Ba giới sau, cũng theo đây suy ra mà biết. Do đó, chúng ta có thể nói công đức trì giới cố nhiên là do tín ngưỡng và cũng do bi tâm nung đúc và trưởng dưỡng, công đức của Phật lớn vô cực. Bi tâm của Phật cũng lớn vô cùng, ấy là đồng thể đại bi vậy.

Vì thế ở trong kinh Phật thường gọi ngũ giới là ngũ đại thí, trì ngũ giới nếu trì đến triệt để chẳng những ngăn nơi “chỉ ác” mà còn làm đến “hành thiện”: Không sát sinh mà phải hộ sinh phóng sinh, không trộm cướp mà phải hành bố thí. Ba giới kia theo đây có thể biết. Nhưng bản ý của ngũ đại thí là thí cái tâm không sợ hãi cho tất cả chúng sinh. Do ta trì giới sát nên chúng sinh chẳng sợ giết hại. Do ta trì giới không trộm cướp nên chúng sinh chẳng sợ ta trộm cướp. Do ta trì giới tà dâm nên chúng sinh chẳng sợ ta dâm ô thân thuộc của họ. Do ta trì giới vọng ngữ nên chúng sinh chẳng sợ ta lường gạt. Do ta trì giới không uống rượu nên chúng sinh không sợ ta uống rượu mà điên cuồng quậy phá. Cho nên gọi ngũ giới là ngũ đại thí.

Người sống trong thế giới hiện tại, không ai có uy lực tuyệt đối nắm được cái không bị tai họa do sát, đạo, dâm, vọng gây ra. Chính vì thế mà chúng ta đề xướng sự thọ trì ngũ giới; nếu như thêm nhiều người thọ trì ngũ giới, nhân lọai xã hội bớt đi một phần sự uy hiếp của tai họa; mọi người đều thọ trì ngũ giới, thế giới chúng ta sẽ trở thành Tịnh độ nhân gian.

Điều quan trọng là ngũ giới của Phật giáo có thể mở rộng tâm đồng cảm đến tất cả chúng sinh. Thọ trì ngũ giới có thể ban cho nhân loại sự vô úy (không sợ), cũng tăng cho tất cả chúng sinh sự vô úy đây là điều mà giới của thế gian chẳng bì kịp. Tỷ như giới không sát sinh của Cơ Đốc giáo chỉ không giết người, mà chẳng cấm giết các động vật ngoài nhân loại. Nho gia Trung quốc chủ trương mở rộng lòng nhân đến vật, nhưng lại chẳng ngăn giết sinh vật khác. Sự lớn lao của công đức thọ trì Phật giới là ở chỗ này, bởi vì trì một giới sát, thì ở trên phần của tất cả chúng sinh đều được công đức bất sát. Cho nên, nếu nhân loại đều thọ trì ngũ giới, chẳng những nhân loại được hòa bình an lạc, mà tất cả chúng sinh cũng giải trừ được tai họa do loài người gây ra.

Ngũ giới là nền tảng của tất cả Phật giới, Phật tử tại gia sau khi tiến vào cửa Phật đều phải nên thọ trì, vì thế thông thường gọi là Ngũ giới tại gia.

Ngũ giới tuy chỉ có 5 điều, song về chỗ vi tế của nó rất là phiền phức. Như muốn được ngũ giới thanh tịnh, ta nên nghiên cứu thêm. Nay lược thuật như sau:

Sự hủy phạm ngũ giới đều có khinh trọng. Tội trọng (nặng), chẳng cho sám hối, vì thế gọi là bất khả hối. Tội khinh (nhẹ) cho sám hối, lại phân làm 2 loại gọi là trung khả hối và hạ khả hối. Theo Đại thừa Bồ tát giới, khi phạm tội trọng, nên thực hành Thủ tướng sám, nghĩa là ở trước Phật lễ sám, được thấy hảo tướng, thấy hào quang, thấy bông hoa, thấy Phật, Bồ tát đến xoa đầu, tội liền trừ diệt. Song, sám hối trừ tội, chỉ trừ được tội phạm giới mà chẳng trừ được tánh tội, như phạm giới giết người, giới tội đáng lẽ bị đọa tam đồ, nhưng nợ người một mạng vẫn phải bồi thường, nhân duyên thành thục chắc chắn phải trả nợ báo. Nếu chẳng nhập Vô dư Niết bàn, giả sử chứng quả A la hán, vẫn phải bồi thường người một mạng, cho đến giết một con kiến, tánh tội vĩnh viễn chẳng diệt. Giới trộm cướp cũng giống như vậy, giới tội của giới trộm cướp tuy giống như giới sát sinh, nhưng tánh tội giới trộm cướp chỉ cần bồi thường đúng giá đã trộm là có thể giải quyết xong.

Trong ngũ giới, bốn giới sát, đạo, dâm, vọng, đều có khả hối và bất khả hối, một giới uống rượu dù phạm trong bất cứ trường hợp nào, đều là khả hối. Bốn giới trước của ngũ giới đều có giới tội và tánh tội, giới uống rượu chỉ có giới tội mà không có tánh tội. Vì thế gọi 4 giới trước là tánh giới, giới uống rượu là giá giới. Tánh giới là trong Phật pháp và thế pháp đều công nhận. Dù Phật chẳng chế giới, khi phạm sát sinh, trộm cướp, tà dâm, vọng ngữ là hành vi thuộc bản tánh, đều là tội ác, vì thế chỉ có người thọ ngũ giới Phật giáo rồi chẳng được phạm.

Nói đến chỗ này cũng có người hoài nghi, chẳng thọ Phật giới làm việc xấu chỉ có một lớp tánh tội, thọ Phật giới lại thêm một giới tội lớn hơn. Vậy đâu cần thọ giới? Kỳ thật, thọ giới là vì trừ ác nghiệp, chẳng lẽ sau khi thọ giới lại chuẩn bị tạo ác sao? Giả sử thật muốn tạo ác, cũng có thể tùy thời xả giới, vạn nhất chưa kịp xả giới mà tạo ác nghiệp, tuy sẽ bị đọa tam đồ, song rốt cuộc cũng có thể thành Phật. Nếu như vĩnh viễn chẳng thọ giới, cũng sẽ vĩnh viễn không có khả năng thành Phật, hạt giống nhân duyên nếu gieo thuần thục, chắc chắn sẽ có thu hoạch. Xin đem sự trì phạm của ngũ giới trình bày như sau:

1. GIỚI SÁT SINH

Giới sát lấy giết người làm trọng, giết chúng sinh dị loại là khinh. Giết người đủ 5 điều kiện thành tội thì không thể sám hối (bất khả hối):

1. Là người: Bị giết là người, chứ chẳng phải dị loại bàng sinh.

2. Tưởng là người: Có y giết người mà chẳng tưởng giết dị loại bàng sinh.

3. Có tâm giết: Có tâm giết người chứ chẳng phải cố ý ngộ sát hoặc vô tâm giết lầm người.

4. Lập phương tiện: Vận dụng phương pháp giết người.

5. Người chết: Người bị giết chắc chắn đã chết.

Thủ đoạn giết người nhiều vô cùng, nếu phân loại chẳng ngoài tự tay giết, khuyên người tự sát, bảo người đi giết người. Hậu quả của giết người có ba loại:

1. Ngay lúc giết người liền chết, phạm tội bất khả hối.

2. Ngay lúc giết không chết, về sau nhân đó mà chết cũng phạm tội bất khả hối.

3. Ngay lúc giết không chết, về sau cùng chẳng nhân đó chết, phạm tội trung khả hối.

Giết người chẳng hạn cuộc dùng dao, dùng súng, mà dùng bất cứ thủ đoạn nào làm cho người chết đều gọi là giết người, đều mang tội giết người.

Động cơ sát sinh chẳng ngoài 4 thứ, phạm tội cũng có sai biệt:

1. Vì giết người mà làm các phương tiện (như đào hầm, bỏ thuốc độc, phóng hỏa, nhận nước,v.v…) khiến cho người chết, phạm tội bất khả hối, phi nhân (người biến hóa) chết phạm trung khả hối, súc sinh chết cũng phạm trung khả hối.

2. Vì giết phi nhân mà làm các phương tiện khiến cho phi nhân chết, phạm trung khả hối; khiến cho người chết và súc sinh chết đều phạm tội khả hối.

3. Vì giết súc sinh mà làm các phương tiện khiến cho người chết, phi nhân chết, súc sinh chết đều phạm tội hạ khả hối.

4. Làm phương tiện bất định: Chuẩn bị gặp ai giết nấy, khiến cho người chết, phạm tội bất khả hối; phi nhân chết, phạm tội trung khả hối; súc sinh chết, phạm tội hạ khả hối.

Bốn thứ động cơ đã nêu ở trên đều lấy bên đối tượng của động cơ đắc tội, không lấy bên đối tượng bị giết đắc tội, tỷ như giết người lại giết lầm phi nhân là tội trung, giết lầm súc sinh cũng là tội trung, là từ phương tiện của sự giết người mà đắc tội. Nếu như làm phương tiện giết người mà chưa đạt đến mục đích giết người, cũng chưa giết lầm phi nhân và súc sinh, đắc tội trung khả hối.

Lấy đây suy ra, làm các phương tiện giết phi nhân và giết súc sinh, đều phạm tội hạ khả hối.

Phật cấm sát sinh, cho nên cũng cấm phá thai. Nếu giết thai nhi bằng cách phá thai, thai nhi chết, phạm tội bất khả hối; thai không chết mà mẹ chết, phạm tội trung khả hối (cũng từ bên thai nhi làm phương tiện giết mà đắc tội); mẹ con đều chết, phạm tội bất khả hối; mẹ con đều không chết, phạm tội trung khả hối. Nếu vì giết mẹ mà phá thai, đắc tội ngược lại với những điều nói trên.

Nhân vì giết người, người chết phạm tội bất khả hối; giết phi nhân, phi nhân chết, phạm tội trung khả hối. Cho nên, đại sư Ngẫu Ích nói:” Giết người tưởng là người, phạm tội bất khả hối. Giết người nghi là người, cũng phạm tội bất khả hối. Giết người tưởng là phi nhân, phạm tội trung khả hối. Giết phi nhân tưởng là người, phạm tội trung khả hối. Giết phi nhân nghi là người, phạm tội trung khả hối. Giết phi nhân tưởng là phi nhân, phạm tội trung khả hối”.

Giết cha mẹ, giết A la hán là phạm tội nghịch phải đọa địa ngục vô gián. Cho đến tội cực trọng trong giới sát sinh cũng có phân biệt: Giết cha mẹ tưởng là cha mẹ, phạm tội nghịch; giết cha mẹ nghi là cha mẹ, cũng phạm tội nghịch; giết cha mẹ tuởng là chẳng phải cha mẹ (như người từ thuở bé xa cách cha mẹ chẳng biết cha mẹ sinh ra mình là ai), chẳng phạm tội nghi nhưng phạm tội bất khả hối. Như người bị giết chẳng phải cha mẹ mà tưởng là cha mẹ (như từ thuở bé làm con nuôi của người mà không biết) hoặc hoài nghi là cha mẹ thì chẳng phạm tội nghịch, nhưng phạm tội bất khả hối. Giết A la hán cũng chiếu theo giết cha mẹ mà biết. Song, cũng có thuyết nói dầu chẳng tưởng là A la hán, giết cũng phạm tội nghịch. Nếu như kẻ giết người tự mình chết trước, người bị giết chết sau, thì phạm tội khả hối chứ chẳng phải bất khả hối. Bởi vì người chết giới thể cũng xả (ngũ giới thọ trì suốt đời này thôi), cho nên chỉ trước lúc chưa chết đắc tội phương tiện giết người, chẳng đắc tội đã toại ý giết người, sau khi chết là đã xả giới cũng không có giới tội, người bị giết tuy do kẻ kia giết chết song lại chết sau hung thủ thì hung thủ không có giới tội giết người.

Sát sinh lấy tâm làm chủ, vô ý giết chẳng phạm tội trọng, vì thế đùa giỡn đánh người, người bị đánh nhân đó mà chết, chẳng phạm tội trọng, chỉ phạm tội khả hối. Giết lầm ngòai ý muốn không phạm. Nếu chẳng cẩn thận để đến nỗi giết lầm người khác chết thì phạm tội trung khả hối. Nếu si cuồng tâm lọan, đau khổ quẫn trí, chẳng tự chủ được mà giết người, không phạm.

Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, giết phi nhân rất ít thấy, ít nghe; giết người chẳng phải là việc tầm thường; nếu chẳng phải là đồ tể thì mỗi ngày cũng không giết heo, giết bò. Giới sát sinh chúng ta dễ phạm nhất là đối với loài bàng sinh, động vật nhỏ bé như trùng kiến.

Có người viết thư hỏi tôi: Trong nhà có trùng kiến phải xử trí thế nào? Lúc quét tước chắc chắn là giết hại chút ít, giết hại như thế có bị coi là phá giới sát sinh hay không? Hay là quy lỗi về nghiệp báo của trùng kiến phải chịu như thế? Đây thật là một vấn đề lớn, vì bảo vệ tài sản sinh sống của tự thân con người nên phải đuổi trừ trùng kiến phá họai, vì hộ trì giới thể thanh tịnh lại chẳng được cố ý giết hại trùng kiến. Nhưng trùng kiến tổn hại đối với người, cần phải đuổi trừ, lúc đuổi trừ chẳng được có tâm sát hại, phải làm cẩn thận, nếu đã làm hết khả năng hộ sinh rồi, lỡ có giết lầm hại lầm, phải tự trách tâm mình, sinh lòng hối hận, phát bi nguyện, nguyện cho chúng nó sinh vào loài thiện, nguyện cho chúng nó sẽ được thành Phật thì mới có thể khỏi tội sát sinh. Điều này có nói trong luật, như Thập Tụng Luật quyển 11 ghi chép Đức Phật đích thân trừ côn trùng nơi giường nệm của chư Tăng. Theo Thập Tụng Luật quyển 37, nhân vì trong nhà tắm ẩm thấp sinh trùng, Phật nói:”Phải quét dọn cho sạch”. Nhưng điều quan trọng nhất là không cho trong nhà cửa sinh trùng kiến, thường phải giữ cho khô ráo sạch sẽ, vừa hư phải sửa ngay, những lỗ dưới chân tường phải lấp lại sớm, chỗ dễ sinh trùng trước lúc chưa sinh phải xịt thuốc sát trùng phòng ngừa. Nếu sau khi đã sinh trùng, vì trì giới phải cẩn thận đuổi trừ, chẳng được dùng thuốc sát trùng để giết hại. Bằng không, giết một côn trùng đắc một tội hạ khả hối, giết ngàn vạn côn trùng thì đắc ngàn vạn tội hạ khả hối. Nhưng muốn được giới sát sinh tuyệt đối thanh tịnh phải đến Sơ quả Tiểu thừa trở lên, vì Sơ quả cày đất, côn trùng cách lưỡi cày 4 tấc, phàm phu làm chẳng được.

Do vì trì phạm của giới hoàn toàn ở nơi tâm, cho nên đối với tội sát trùng phân biệt ra sáu trường hợp : Có trùng, tưởng có trùng, phạm tội căn bản tiểu khả hối; có trùng nghi có trùng, cũng phạm tội căn bản tiểu khả hối; không trùng tưởng có trùng, phạm tội phương tiện tiểu khả hối; không trùng nghi có trùng, cũng phạm tội phương tiện tiểu khả hối; có trùng, tưởng không trùng, không phạm; không trùng, tưởng không trùng, không phạm. Ngoài ra, chẳng được đánh người, chẳng được đánh súc sinh, cho đến trùng kiến đem tâm giận hờn đánh đập đều đắc tội.

Chỗ này người đọc còn có một nghi vấn đó là giữ giới sát có cần phải ăn chay hay không? Theo luật chế, từ ngũ giới đến Tỳ kheo giới không bắt buộc phải ăn chay. Chẳng ăn cá thịt là quy định của Đại thừa Bồ tát giới, trì giới không sát sinh của ngũ giới chẳng được tự mình sát sinh, chẳng được khuyên người hay bảo người sát sinh. Cho nên chính mình chẳng được giết gà, vịt, cá, tôm nếu như mua đồ đã làm rồi thì chẳng bị sự cấm đoán của ngũ giới.

Đương nhiên, nếu như có thể phát tâm ăn chay lại càng tốt. Ăn chay là đức tính tốt đẹp của Phật giáo Đại thừa, ăn chay là sự biểu hiện cụ thể của tinh thần giới sát tiến thêm một bước, cho nên tôi hy vọng người thọ ngũ giới rồi tốt nhất là ăn chay, bằng không thì cũng chẳng ngại gì.

2. GIỚI TRỘM CƯỚP

Giới trộm cướp, nếu như giới thiệu tường tận thì đó là một giới phiền phức hơn hết trong ngũ giới. Ở đây chúng ta chỉ nói đại yếu.

Trộm cướp là hành vi chẳng cho mà lấy.

Sự hủy phạm của giới trộm cướp có chia khinh trọng. Đủ 6 điều kiện sau đây thành tội bất khả hối:

1. Tài vật của người khác.

2. Biết rõ tài vật của người chẳng phải của mình.

3. Tâm trộm: Khởi niệm trộm cướp, cũng là trước có dự mưu trộm cướp.

4. Tìm cách lấy: Nhờ các phương pháp đạt thành mục đích trộm cướp.

5. Giá trị 5 tiền: Vật trộm cướp trị giá 5 tiền. Đây là Đức Phật chiếu theo quốc pháp của nước Ma Kiệt Đà ở Ấn Độ đương thời mà chế, quốc pháp định trộm cướp 5 tiền trở lên thì phạm tội chết. Vì thế, Phật chế định Phật tử trộm cướp 5 tiền trở lên cũng thành tội trọng bất khả hối. Năm tiền có giá trị bao nhiêu thật là khó định, căn cứ theo sự biên khảo của Đại sư Độc Thể cuối đời nhà Minh, 5 tiền tương ứng với 3 phân 1 ly, 2 hào bạc; căn cứ theo sự nghiên cứu của Đại sư Ngẫu Ích, 5 tiền là 8 phân bạc.

6. Lìa chỗ cũ: Dời tài vật đã trộm cướp ra khỏi vị trí cũ của nó. Nhưng trong đây gồm có: Di động vị trí, biến đổi hình trạng, thay đổi màu sắc v.v… Hễ đem tâm trộm cướp khiến cho chủ của tài vật khởi ra ý tưởng mất tài vật thì đều gọi là ly bổn xứ (lìa chỗ cũ).

Bất luận người ta không cho mà tự mình lấy hoặc bảo người khác lấy, đều là trộm cướp; lấy được tang vật 5 tiền trở lên thành tội bất khả hối.

Nếu như chủ tài vật không đồng ý, bất luận thủ đoạn nào, gạt lấy, trộm lấy, cướp lấy, dùng sức mạnh chiếm, bòn rút, hễ đủ 6 điều kiện kể trên đều thành tội trọng bất khả hối. Trừ lợi nhuận hợp lý ra (Ngũ giới Ưu bà tắc trừ các ác luật nghi như: chẳng được chài lưới, săn bắn, bán rượu, đồ tể, bán thuốc độc, buôn lậu, mãi dâm, cờ bạc,v.v…, có thể buôn bán hoặc canh tác), chẳng được âm mưu lấy tài vật của người.

Không luận là trên hay dưới mặt đất, mặt nước, trong nước, chỗ cao, chỗ thấp, trên cây, trong không, động vật, thực vật, khoáng vật, trong hành động, trong tĩnh chỉ, tất cả tài vật bất luận thuộc chủ quyền của quốc gia, của tư nhân, của tôn giáo đều chẳng được trộm cướp. Trừ phi là vật phấn tảo (vật ném bỏ, như rác) không có chủ, lấy không tội. Nếu đem tâm trộm cướp trộm người, mang người trên vai, hai chân rời đất, pham tội bất khả hối; có tâm dụ dỗ người đem bán, khiến cho người đó đi qua hai bước, cũng phạm tội bất khả hối.

Thử nêu ra vài trường hợp:

Nếu đem tâm trộm cướp, trộm cướp động vật bốn chân như trâu, bò, lừa, ngựa dùng dây dắt đi, đi qua bốn bước, phạm tội trọng bất khả hối.

- Trong nước có bè gỗ, có tâm trộm cướp muốn giữ lại một phần khiến cho nó lìa bè trị giá 5 tiền, phạm tội bất khả hối.

- Vật trong nước, trộm lấy lìa mặt nước, hoặc nhận chìm xuống đáy, trị giá 5 tiền, thành tội bất khả hối.

- Không trung nếu chim có chủ ngậm vật của người khác bay, có tâm trộm cướp chờ lấy, phạm tội trung khả hối; lấy được trị giá 5 tiền, phạm tội bất khả hối.

Nếu có chim rừng ngậm vật bay, có tâm trộm cướp chờ lấy, phạm tội hạ khả hối; lấy được, phạm tội trung khả hối (đây chẳng phải là vì một vật đắc tội, mà vì có tâm trộm cướp nên bị kết tội).

- Có tâm trộm cướp xá lợi, phạm tội trung khả hối (vì xá lợi không tính được trị giá). Tâm cung kính lấy xá lợi không phạm (trong Luật và Kinh A Hàm,, nguyên nghĩa của Xá lợi là hài cốt. Ngày nay tương truyền hài cốt thiêu rồi được hạt cứng chắc gọi là hạt Xá lợi).

- Kinh sách, pháp khí, tất cả đồ dùng của Tam bảo, tài vật trang nghiêm đều không được trộm, nếu trộm trị giá 5 tiền đều phạm tội bất khả hối.

- Tất cả thuế chẳng được lậu, nếu lậu thuế trị giá 5 tiền thành tội bất khả hối. Nói chung, các thứ thuế được pháp lệnh của nhà nước quy định cho đến trong các bưu kiện ngày nay, thư tín gửi kèm trong vật ấn loát hoặc dùng vật ấn loát để đạt thành mục đích thư tín, hoặc gửi tiền trong thư tín bình thường, đều gọi là trốn thuế, đều phạm giới trộm cướp, giá trị 5 tiền thành tội bất khả hối.

Đại sư Hoằng Nhất giỏi về thư pháp, người đến cầu xin chữ viết của Ngài rất đông. Có một lần đệ tử tại gia của Ngài gửi Ngài một tập giấy, xin Ngài viết chữ, Ngài viết xong những chữ phải viết, giấy còn dư, Ngài không biết phải xử lý thế nào để khỏi phạm giới chẳng cho mà lấy. Ngài bèn viết thư hỏi vị đệ tử tại gia ấy. Do đây có thể thấy được sự trì giới nghiêm cẩn của Đại sư Hoằng Nhất.

Trong mười pháp giới, chỉ có Phật mới là trì giới rốt ráo thanh tịnh, đến Sơ quả Tiểu thừa mới đoạn hẳn được tội cố trộm cướp.

Phạm vi của giới trộm cướp bao quát ở trong sự tổn hại tài vật của người khác, đây là loại ác tác “tổn người chẳng lợi mình”. Nếu như có tâm làm cho tổn thất tài vật của kẻ khác đang mong được, bất luận là dùng thủ đoạn nào, chỉ cần trở thành sự thật, nếu tài vật tổn hại trị giá 5 tiền thì đắc tội trọng bất khả hối.

Sự khinh trọng của giới trộm cướp được phân biệt như sau: Trộm tài vật trị giá 5 tiền hoặc quá 5 tiền, phạm tội trọng bất khả hối. Trộm chẳng đủ 5 tiền, phạm tội trung khả hối. Làm phương tiện trộm cướp mà chưa đạt thành mục đích trộm cướp, phạm tội hạ khả hối. Lậu thuế hoặc tổn hại, tội đồng với trộm cướp.

Theo Phật pháp, chẳng được viện lý do như đói khát, tật bệnh, thiên tai, hoạn nạn, hiếu dưỡng cha mẹ, cung cấp vợ con để làm trộm cướp. Nếu làm trộm cướp đều thành tội. Như có khó khăn, có thể cầu xin nhận của người bố thí thì không tội. Mượn mà không trả cũng phạm tội trộm cướp.

Nhưng trong giới trộm cướp cũng có khai duyên như tưởng là vật của mình mà lấy, được đối phương đồng ý, hoặc vì tình cảm thân thiết biết người kia ắt đồng ý mà lấy, tạm thời dùng mà lấy, cho rằng người ta bỏ mà lấy, hoặc nhân tâm si cuồng đau khổ quẫn trí mà lấy thì không tội.

3. GIỚI TÀ DÂM

Trừ sự quan hệ nam nữ giữa vợ chồng, tất cả những sự quan hệ nam nữ không được pháp luật quốc gia hoặc đạo đức xã hội thừa nhận đều gọi là tà dâm.

Kinh Viên Giác nói:”Như các thế giới tất cả chúngsinh, loài sinh bằng trứng, loài sinh bằng thai, loài sinh bằng sự ẩm thấp, loài hóa sinh đều do dâm dục mà chánh tính mạng”. Đủ biết sự tồn tại của chúng sinh đều do dâm dục. Nếu muốn phàm phu chúng sinh đều đoạn dứt dâm dục, ấy là điều chẳng thể được. Chúng sinh tu chứng đến tam quả A na hàm mới dứt hẳn được dâm dục. Tu thiền định, nhập Sơ thiền trở lên mới phục được dâm dục. Chúng sinh Dục giới, dù đến cõi trời thứ sáu vẫn còn ở trong dâm dục, tại thế giới loài người rất khó ngăn tuyệt. Đức Phật thiết lập giáo pháp cố nhiên mong muốn tất cả chúng sinh đều ly dục, song đây là việc không thể hoàn toàn được. Vì thế, Ngài khéo bày phương tiện cho đệ tử tại gia sinh họat vợ chồng một cách chính đáng.

Thật ra, sự an lập của thế gian do sự hòa hợp nam nữ vợ chồng. Sinh hoạt vợ chồng bình thường chẳng mang đến bi kịch xã hội. Vấn đề quan hệ nam nữ bất bình thường tạo thành bi kịch xã hội. Nếu như mọi người đều an phận trong sinh họat gia đình một vợ một chồng, thì báo chí của chúng ta chẳng nêu lên những trường hợp như: Gian dâm bị giết, giết nhau vì tình, hiếp dâm, dụ dỗ, thông dâm, đồng lòng thông dâm phá hoại gia đình, v.v… Vì tạo thành sự hòa bình an lạc cho nhân gian nên Đức Phật chế định tà dâm cho nam nữ tín đồ tại gia.

Giới tà dâm đủ 4 điều kiện thành tội trọng bất khả hối:

1. Không phải vợ chồng: Chẳng phải vợ chồng mình đã kết hôn.

2. Có tâm dâm: Thích hành dâm như đói được ăn như khát được uống. Bằng không, phải như lưới sắt nóng quấn thân, hoặc cổ đeo tử thi sình thúi.

3. Đúng chỗ là ở miệng, đường tiểu tiện (âm đạo) và đường đại tiện mà hành dâm.

4. Sự toại: Tạo thành sự thật hành dâm. Hai căn (bộ sinh dục) của nam nữ tiếp xúc và nhập vào nhau một chút như hạt mè, thành tội trọng bất khả hối.

Nếu ngũ giới nam trừ vợ mình ra, đối với người nữ, chẳng phải người nữ, súc sinh cái ở ba chỗ (tức là miệng, âm đạo, đường tiểu tiện) hành dâm; hoặc đối với người dâm chẳng phải người nam, súc sinh đực và huỳnh môn (người bị thiến), hoặc người hai tánh âm dương bất toàn ở hai chỗ (miệng và đường đại tiện) hành dâm, người hai hình (có lúc biến thành nam có lúc biến thành nữ) phi nhân hai hình, súc sinh hai hình, ở ba chỗ hành dâm, phạm tội trọng bất khả hối. Hai thân hòa hợp mà chưa hành dâm, nửa chừng ngưng lại phạm tội trung khả hối. Trừ ba chỗ của nữ tánh, hai chỗ của nam tánh, ở các bộ phận khác hành dâm tội đều khả hối.

Trong lúc ngủ say, ba chỗ của nữ tánh, hai chỗ của nam tánh hành dâm cùng phạm tội trọng bất khả hối. Nơi ba chỗ của người nữ chết, hai chỗ của người nam chết mà hành dâm, nếu tử thi chưa hoại hoặc hơn phân nửa chưa hoại cũng phạm tội trọng bất khả hối. Nếu tử thi hoại phân nửa hoặc hơn phân nửa, hoại tất cả, cho tới chỉ còn bộ xương mà hành dâm, đều phạm tội hạ khả hối.

Trong Kinh Ưu bà tắc Ngũ Giới Tướng nói:”Nếu Ưu bà tắc cùng dâm nữ hành dâm không trả tiền, phạm tà dâm bất khả hối, trả tiền thì không phạm”. Đây là nói người nam tại gia thọ ngũ giới bỏ tiền ra hành dâm với dâm nữ chẳng phạm giới. Đây là do ở Ấn Độ, đối với quan hệ nam nữ rất tùy tiện, người nam bỏ tiền ra hành dâm với người nữ là việc thông thường, vì thế không cấm. Song, trong Đại thừa Bồ tát giới, nếu chẳng phải là Bồ tát Địa thượng (bậc Sơ địa trở lên) vì nhân duyên nhiếp hóa chẳng được có hành vi này. Trong quan niệm tập tục của người Trung Quốc hiện nay, hành vi bỏ tiền ra hành dâm với dâm nữ chẳng phải là gương tốt của các bậc thánh nhân quân tử. Chúng ta đã tin Phật, học Phật, lại là người đã thọ ngũ giới, ta cũng nên coi đó là tà dâm.

Người thời nay vì lý do ngừa thai hoặc phòng độc, có dùng bao cao su và vòng an toàn, tuy bộ sinh dục của nam nữ không tiếp xúc trực tiếp nhau, song cũng hưởng thụ được cái khoái lạc của hành dâm, nên nam nữ không phải là vợ chồng mà hành dâm cũng coi là đồng với tà dâm. Trong luật có ghi rõ : Bất luận có ngăn cách (như dùng bao cao su hoặc vòng an toàn ) hoặc một bên có ngăn cách, hoặc hai bên đều có ngăn cách, chỉ cần hai bộ sinh dục nhập vào nhau một chút như đầu sợi lông (cũng gọi là như hạt mè) tức thành tội trọng bất khả hối. Bất luận là làm bên trong xuất tinh bên ngoài, hoặc làm bên ngoài xuất tinh bên trong, đều phạm tội trọng bất khả hối.

Người nữ đem ba chỗ (miệng, âm đạo, đường đại tiện) thọ nhận người nam, chẳng phải người nam, súc sinh đực, người hai hình, phi nhân hai hình, súc sinh hai hình và huỳnh môn hành dâm mà có cảm thọ khoái lạc đều phạm tội trọng bất khả hối. Bất luận lúc ngủ hay lúc thức, cho đến bị sức mạnh cưỡng hiếp, ba chỗ thọ nhận hành dâm hễ có một niệm cảm thọ khoái lạc đều thành tội trọng bất khả hối. Người nữ do phiền não dâm dục, ở trên tử thi của người nam hành dâm, nếu tử thi chưa hoại hoặc hoại hơn phân nửa, phạm tội trung khả hối. Người nữ do phiền não dâm dục lợi dụng khí vật đút vào trong nữ căn (âm đạo) (người đời nay gọi là thủ dâm) cảm thọ khoái lạc, phạm tội hạ khả hối.

Có ngăn cách cùng không ngăn cách theo trên có thể biết.

Phạm giới đều tại nơi tâm, nếu như không có tâm tà dâm thì không chủ động đi phạm giới tà dâm, rủi bị cường lực cưỡng bức mà bị gian ô, nếu lúc đó không có chút cảm thọ khoái lạc thì không phạm giới. Điều này ở thời Đức Phật có mấy vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni đắc quả A la hán, hoặc nhân lúc ngủ say hoặc nhân trong bệnh khổ cũng bị dâm nữ hoặc bọn dữ hiếp dâm, nhưng vì A la hán đã ly dục nên hẳn là không thọ khoái lạc, vì thế chẳng phạm giới.

Do đó giới dâm cũng có khai duyên. Nếu bị oan gia bức bách mà không cảm thọ khoái lạc thì không phạm.

Phạm vi của tà dâm không những chẳng được cùng nam nữ ngoài vợ chồng phát sinh quan hệ không chính đáng, giả sử là vợ chồng cũng có sự hạn chế: Ngày kỷ niệm Phật, Bồ tát, mỗi tháng 6 ngày trai chẳng được hành dâm, ngày sinh nhật của cha mẹ, ngày chết của thân thuộc như cha mẹ, anh em, chị em v.v…chẳng được hành dâm. Trong thời kỳ kinh nguyệt, thời kỳ mang thai trước khi sinh, sau khi sinh chẳng được hành dâm ở chỗ khác.Trừ ban đêm ở trong phòng ngủ ra, chẳng được hành vào lúc khác, nơi khác. Tốt nhất là phải làm cho được điều này: Lúc con cái thành niên phải thực hành tiết dục; sau khi con cái được dựng vợ gả chồng, phải thực hành cấm dục.

Do đó, tội lỗi của tà dâm, phân làm 3 phẩm: Cùng với lục thân (mẹ con, chị em, cha con, anh em) hành dâm, là phạm thượng phẩm tội. Cùng tất cả nam nữ ngoài vợ chồng tà dâm là phạm trung phẩm tội. Cùng với vợ mình hành dâm chẳng phải lúc chẳng phải đạo là phạm hạ phẩm tội. Theo sự khinh trọng của ba phẩm này phân biệt bị đọa tam đồ. Nhưng trong tất cả giới tà dâm, phá phạm hạnh của người tịnh giới là tội nặng hơn hết. Người tịnh giới tức đệ tử Phật đã thọ giới Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Thức xoa ma na, Sa di, Sa di ni, cho đến người thọ trì Bát quan giới trai, trong ngày trai của họ phá tịnh giới cũng gọi là ô phạm hạnh, song phải là lần thứ nhất phá. Nếu đã từng thọ giới, mà trước đã bị người khác phá hủy rồi sau lại cùng người hành dâm, thì chẳng thành tội phá giới tịnh giới mà là tội tà dâm. Nếu chẳng thọ ngũ giới lại phá tịnh giới của người khác, tuy chưa thọ Phật giới nên không có phạm giới tội, song vĩnh viễn không được cầu thọ tất cả Phật giới, vĩnh viễn bị bỏ ra ngoài biển lớn Phật pháp, vì thế gọi phá tịnh giới là Biên tội.

Giới tà dâm vốn cũng phiền toái, như chẳng được nói lời thô ác dâm dục và các chi tiết nhỏ nhặt phòng ngừa không thể kể hết, chỉ mong mọi người tự nhiếp tâm tự trọng. Thông thường, nam nữ đã kết hôn, đã có sinh hoạt bình thường của vợ chồng, trì giới tà dâm rất dễ.

4. GIỚI VỌNG NGỮ

Vọng ngữ là lời nói dối trá thiếu thành thật. Ngày nay trong thế giới của chúng ta, xã hội của chúng ta, và ngay cả cá nhân chúng ta đều đầy dẫy sự vọng ngữ.

Thời cổ đại, vọng ngữ chỉ truyền trong một phạm vi giới hạn, người bị gạt chẳng đến nỗi nhiều. Nhân loại ngày nay có các phương tiện truyền thông như : báo chí, điện thoại, truyền thanh, truyền hình làm công cụ truyền bá, chỉ cần vận dụng khéo léo, thì sức mạnh của vọng ngữ không còn giới hạn, chỉ một lời nói dối cũng có thể dối gạt loài người toàn thế giới.

Sự vọng ngữ của thời xưa chỉ hạn cuôc nơi lời nói, ngày nay trừ ngôn ngữ tiếp xúc ra, còn có văn tự của kỹ thuật ấn loát mới phát minh sau này làm môi giới. Ngôn ngữ nói ra liền tiêu mất, văn tự chẳng những dối gạt người một thời, một nơi, mà còn tung hoành vượt cả thời gian và không gian nữa.

Chúng ta có thể nói chắc rằng: Mỗi ngày mở báo ra, trong báo có rất nhiều vọng ngữ, từ sự đàm thoại của người hiện đại đến sự quảng cáo của thương nghiệp, ai bảo chứng được ý hướng của họ có bao nhiêu phần chân thật? Đặc biệt là sự thêu dệt của báo chí dưới ngòi bút của ký giả, tuy chẳng nói là hoàn toàn bịa đặt, song có rất nhiều tình tiết đặt ra từ sự tưởng tượng và suy diễn của bộ óc thông minh của loài người

Vì thế ngày nay đề xướng giới trừ vọng ngữ là điều tuyệt đối cần kíp.

Trong Phật giáo, chia vọng ngữ ra làm 3 lọai: Đại vọng ngữ, tiểu vọng ngữ, phương tiện vọng ngữ. Trọng yếu hơn hết chính là phạm tội đại vọng ngữ. Đại vọng ngữ hội đủ 5 điều kiện, thành tội trọng bất khả hối:

Nói với người: Đối với người đại vọng ngữ.

Tưởng là người: Nhận định đối phương là người chứ chẳng phải là phi nhân hoặc súc sinh.

Có tâm dối gạt: Có ý muốn đối phương bị gạt.

Nói đại vọng ngữ: Tự mình chưa chứng thánh quả thánh pháp, mà tự nói đã chứng thánh quả, cho đến thật chưa đắc tứ thiền định lại nói đã đắc, thật chưa thấy thiên đến, long đến, thần đến, quỷ đến, mà nói thấy thiên đến, long đến, thần đến, quỷ đến.

5. Người đối diện hiểu: Đối phương hiểu được nội dung đã nói. Nếu như đối phương là người điếc, người si, người chẳng hiểu lời nói, và hướng về phi nhân, súc sinh nói đại vọng ngữ, chẳng phạm tội trọng.

Định nghĩa của vọng ngữ là không biết nói biết, biết nói không biết, không thấy nói thấy, thấy nói không thấy, không hay nói hay, hay nói không hay, không nghe nói nghe, nghe nói không nghe.

Các cách vọng ngữ là tự vọng ngữ, bảo người vọng ngữ, sai sử vọng ngữ, viết thành văn tự vọng ngữ, hiện tướng vọng ngữ (hiện tướng lạ để gạt mọi người, thân làm oai nghi để biểu thị mình chẳng phàm phu, lại như im lặng nhận thầm, chỉ gật đầu ra dấu).

Hễ có tâm dối gạt người, bất luận dùng phương pháp nào khiến cho người bị dối gạt hiểu được, dù dối gạt có đạt được mục đích hay không (như cầu danh tiếng lợi dưỡng), đều phạm tội vọng ngữ.

Có ý tâng bốc lẫn nhau, như A nói B là thánh nhân, B nói A là thánh nhân, để mong được người thứ ba cung kính cúng dường mà thật chẳng thánh nhân, cũng là tội đại vọng ngữ. Nếu như chẳng dùng đại vọng ngữ dối gạt người, tất cả sự dối gạt đều gọi là tiểu vọng ngữ. Nếu vì cứu độ chúng sinh, Bồ tát có thể làm phương tiện vọng ngữ, tỷ như kẻ say rượu muốn giết người, nếu thật thấy người kia lại nói gạt kẻ say rượu là không thấy thì không tội.

Đại vọng ngữ đầy đủ 5 điều kiện kể trên thành tội trọng bất khả hối. Tuy nói đại vọng ngữ mà ngôn từ chẳng rõ ràng, hoặc đối phương không hiểu, phạm tội trung khả hối. Hướng về súc sinh nói đại vọng ngữ phạm tội hạ khả hối. Muốn nói đắc quả A la hán, nói lầm đã đắc quả A na hàm, hễ tâm miệng chẳng hợp nhau, dù nói đại vọng ngữ khiến cho người hiểu, đều đã đắc tội trung khả hối. Nói thế gian vọng ngữ dối gạt người, đều phạm tội khả hối.

Trong vọng ngữ còn gồm có lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ; khi phạm, tuy chẳng mất giới thể nhưng phạm tội khả hối. Lưỡng thiệt là khiêu khích ly gián, đến người này nói người kia, đến người kia nói người này. Ác khẩu là nói những lời chê bai bươi móc, chửi rủa, nói mát, châm biếm, khắc nghiệt. Ỷ ngữ là những lời trau chuốt khiến người sa vào vòng trụy lạc, lời ca tình tứ, văn chương trữ tình, chuyện tiếu lâm, nói chuyện vô bổ, lời chẳng đúng nghĩa. Người thọ ngũ giới phải luôn luôn kiểm điểm, bằng không, phạm lỗi còn tự chẳng biết.

Trong giới vọng ngữ, trừ người chẳng biết hổ thẹn, chẳng hiểu nhân quả mới phạm đại vọng ngữ, thường thường dễ phạm nhất là tiểu vọng ngữ, khó ngăn nhất là ỷ ngữ, còn cơ hội phạm lưỡng thiệt và ác khẩu không nhiều lắm. Như có bốn người bạn họp lại một chỗ cao hứng cười nói, chắc chắn là họ có phạm tội ỷ ngữ (nếu như họ đã thọ ngũ giới). Vì thế, người tu hành phải nên “thủ khẩu như bình”.

Namnữ tại gia phải hết sức chú ý đến vấn đề bình luận về đệ tử Phật, nhất là đối với người xuất gia. Người tại gia chẳng được nói lỗi xấu của người xuất gia, như thật có lỗi xấu, cũng chẳng được thấy người bèn nói. Nếu như không phải do chính mình thấy nghe, có tội chứng xác thực, mà chỉ nghe người ta nói, mình nói theo, hoặc nói càn người nào có phạm giới, người nói đó trước tiên phạm tội phỉ báng người không có căn cứ (thấy, nghe, nghi là ba căn cứ để chứng tội). Phỉ báng càng nặng, chính mình bị tội phỉ báng càng nặng.

Nhưng muốn dứt hẳn vọng ngữ phải sau khi chứng Sơ quả. Phàm phu thật khó giữ hoàn toàn thanh tịnh giới vọng ngữ, hễ biết kiểm điểm thì vừa phạm lỗi nơi miệng lập tức hối cải, mới có thể chẳng mất tư cách của người Phật tử học Phật.

5. GIỚI UỐNG RƯỢU

Giới uống rượu là giới đặc biệt của nhà Phật. Từ ngũ giới cho đến Đại thừa Bồ tát giới cấm uống rượu. Tỳ kheo Tiểu thừa không giữ giới ăn thịt nhưng vẫn giữ giới uống rượu. Điều này ở Trung Quốc tình hình có chút bất đồng, có nhiều Phật giáo đồ ăn chay trường nhưng lại chẳng giữ giới rượu, họ cho rằng uống rượu có thể dưỡng sinh, họ quan niệm “uống rượu mà không cho say”, tham luyến vật trong ly, kỳ thật là hành vi phạm giới.

Bản thân của rượu vốn không gây tội ác, vì thế uống rượu là một giới duy nhất của ngũ giới thuộc giá giới. Nhưng vì sau khi uống rượu có thể tạo thành tội ác vì muốn ngăn ngừa nhân uống rượu tạo thành tội ác phạm giới, cho nên chẳng cho uống rượu. Uống rượu tuy chẳng chính là phạm tội, nhưng rượu lại hay khiến người phạm tội hơn hết, ba ly đổ vào bụng, do sự kích thích của chất men rượu khiến cho hệ thống thần kinh hưng phấn, mật to xung động, mờ mắt, mất đi sự khống chế của lý trí, có thể mắng người, đánh người, giết người, hiếp dâm, phóng hỏa v.v…

Trong kinh luật Đại thừa, Tiểu thừa đều chủ trương giới rượu, đồng thời có lưu truyền một sự tích như sau: Thời Đức Phật Ca Diếp Ba, có một người thọ ngũ giới luôn luôn trì giới thanh tịnh, một hôm, từ bên ngoài trở về nhà, quá khát nước, ông ta thấy trên bàn có một chén rượu màu trong như nước. Ông ta tưởng là nước, uống một hơi vào bụng, nào ngờ lúc tính chất rượu phát tác khiến ông ta phạm giới một cách liên tục. Thấy gà hàng xóm, ông ta bèn bắt trộm làm thịt ăn, vợ của hàng xóm mất gà sang tìm, thấy vợ người hàng xóm đẹp, ông liền cưỡng gian. Sau việc đó, bị bắt đến công đường, ông ta chối cãi không nhận tội. Vì uống nhầm một chén rượu mà ông ta liên tục phạm đủ 5 điều giới, tội ác của rượu rất là lớn vậy.

Vào thời Đức Phật còn tại thế, có một vị A la hán tên là Sa Dà Đà, thần lực của Ngài có thể hàng phục độc long, sau khi khất thực, Ngài nhận lầm chén rượu có màu nước do tín đồ cúng dường, uống xong, Ngài đi về bị say té ngã dọc đường. Đức Phật thấy bèn hỏi các đệ tử: “Sa Dà Đà trước kia có thể hàng phục độc long, bây giờ hàng phục con cóc có được không?”

Rượu là gì? Trong Tứ Phần Luật nói: “Rượu là rượu nước trái cây, rượu nếp, rượu đại mạch và các thứ rượu khác”.

Thế nào là phạm giới uống rượu? Trong Tứ Phần Luật nói: “Màu rượu, mùi rượu, vị rượu chẳng nên uống”. Trong Thập Tụng Luật nói: “Uống rượu thù tạc, uống rượu say hoặc men rượu hoặc hèm rượu, tất cả thứ nào có thể làm cho người say, hễ nuốt vào là phạm Ba dật đề. Nếu chỉ có màu rượu mà không có mùi rượu, vị rượu, không làm người say, uống không phạm”. Nhưng trong Tứ Phần Luật nói: “Không phạm như lấy rượu làm thuốc, lấy rượu rữa vết thương. Song phải do thầy thuốc dặn bảo, chứ chẳng được tự chủ trương giả danh lấy rượu làm thuốc mà hưởng sự thích thú uống rượu. Bằng không, thì uống vào phạm tội Khả hối”.

Tội báo của uống rượu rất đáng sợ, trong Tứ Phần Luật nói có 10 lỗi, lỗi thứ 10 là khi chết rồi đọa vào ba đường ác. Ngoài ra còn có 36 lỗi (Tứ Phần Luật và Kinh Phân Biệt Thiện Ác Báo Ứng có ghi). Đã biết rượu là món không nên uống, nhưng phải đủ ba điều kiện mới thành tội khả hối:

1. Là rượu: Đồ uống làm cho người say.

2. Tưởng là rượu: Biết rõ đồ uống làm người say.

3. Vào miệng chẳng được cho một giọt dính môi, vào miệng nuốt xuống một hớp phạm tội khả hối.

Trên sự trì phạm của ngũ giới, một giới uống rượu rất là dễ trì, song muốn vĩnh viễn không phạm giới uống rượu cần phải đến bậc thánh A la hán mới có thể không phạm.

III. NGŨ GIỚI PHỐI VỚI THẬP THIỆN CỦA BA NGHIỆP

Nội dung của ngũ giới nói đến đây đại khái cũng đầy đủ. Thông thường có người đem Ngũ giới Thập thiện ra phân biệt giải thích, cũng có người cho thập thiện là thập giới. Nhưng trong Phật giới chưa sắp xếp thập thiện làm giới phẩm, như nói thọ giới là chỉ cho Sa di thập giới, nội dung của Sa di thập giới khác hẳn với thập thiện. Thật ra, thập thiện có thể bao hàm trong ngũ giới; vì thế, ngũ giới thập thiện thông thường được đặt liền nhau. Tu ngũ giới, thập thiện đồng được quả báo trời người. Thập thiện tức là sự phân hóa của ngũ giới, chứ không riêng có thập thiện, điều này có rất nhiều căn cứ trong kinh điển.

Nội dung của thập thiện là: Không sát sinh, không trộm cướp, không tà hạnh (cũng gọi là tà dâm, trong tà hạnh bao quát tất cả chỗ phóng dật của cảnh ngũ dục), không vọng ngữ, không lưỡng thiệt, không ác khẩu, không ỷ ngữ, lìa tham dục, lìa sân nhuế, lìa tà kiến. Phân loại mà nói, thập thiện thuộc ba nghiệp thân, ngữ, ý, cho nên cũng gọi là thập thiện nghiệp. Tu trì hạnh thập thiện là hạnh sinh vào đường lành, vì thế gọi nó là thập thiện nghiệp đạo.

Tiết thứ 2 điều thứ 4, lúc giảng về giới vọng ngữ đã nói một giới vọng ngữ là bao gồm 3 điều thiện: Không lưỡng thiệt, không ác khẩu, không ỷ ngữ; đủ biết ngũ giới thật đã khái quát 7 chi thiện giới của 2 nghiệp thân, ngữ của thập thiện; đến 3 chi tham dục, sân nhuế, tà kiến thuộc ý nghiệp, nếu chẳng nhờ sự biểu hiện của hai nghiệp thân, ngữ thì chẳng tạo tác thành thiện ác. Thật ra, 3 chi của ý nghiệp là do 7 chi của thân, ngữ nhiếp thọ; ý nghiệp chi phối 2 nghiệp thân, ngữ mà có tạo tác. Hai nghiệp thân, ngữ, nếu không có ý nghiệp làm chủ tể tạo tác, ác nghiệp được tạo cũng chẳng thành tội trọng, thậm chí còn vô tội. Vì thế, bàn đến ngũ giới tức là đã đầy đủ thập thiện… Nếu trái với thập thiện là thành thập ác, trái với ngũ giới là ngũ bất giới.

Sự phối hợp của ngũ giới với thập thiện đại khái có thể dùng hai biểu đồ sau đây để thuyết minh: 

Hai biểu đồ trên cần phải nói rõ thêm một chút:

Trong biểu đồ thứ nhất, giới uống rượu phối hợp với ba chi của ý nghiệp là tham, sân, tà kiến dường như gượng ép. Thật ra không phải gượng ép đâu vì y theo Phật pháp nói rượu có phân ra sự tửu và lyù tửu. Phổ thông uống rượu là sự tửu, có hình thái vật chất; nhân vì tính chất của rượu làm cho người ta say sưa mất đi lý trí, vì thế phàm là hiện tượng tâm lý tham, sân, si cũng đều gọi là uống rượu, đó là lý tửu của vô minh phiền não, phải đợi đến sau khi thành Phật mới có thể vĩnh viễn không còn uống. Cho nên ba thứ ý nghiệp tham, sân, tà kiến này phối hợp với một giới uống rượu cũng không lầm.

Biểu đồ thứ hai đem ba thứ của ý nghiệp phối hợp với ngũ giới tuy có tính chất của Thập thiện mà lại chẳng phải hình thái của Thập thiện, vì trong chi mục của Thập thiện không có giới uống rượu. Nhưng đem ba thứ của ý nghiệp phối hợp với hành vi tạo tác cũa ngũ giới là tuyệt đối chính xác.

1. Sát sinh có 3 thứ

a- Do tham dục mà giết, vì tham vị ngon của thịt, vì tham lợi nhuận mà sinh ra sự sát sinh bán thịt, vì tham giá cao hoặc vì đền đáp ân huệ mà sát sinh.

b- Do sân nhuế mà giết, vì báo cừu rửa hận, vì buồn thẹn phẩn nộ, vì trừ khử chướng ngại.

c- Do tà kiến mà giết, vì cầu phước báo, vì cầu công đức, vì cầu bình an, vì cầu phồn thịnh như là giết các loài súc sinh để tế thần cúng quỷ, thậm chí có dân tộc dã man bắt người chặt đầu để tế lễ tạ ơn thần linh.

Loại nghiệp sát này đều thuộc tri kiến tà ác cho nên gọi là Tà kiến sát.

2. Trộm cướp có 3 thứ

a- Tham dục trộm cướp: Thấy lợi quên nghĩa, vì cầu phát tài, vì cầu hưởng lạc, vì cầu sinh hoạt được tốt hơn, vì cầu thỏa mãn tâm tham.

b- Sân nhuế trộm cướp: Tật đố sự giàu sang của người khác, bất mãn người khác phát tài, hoặc vì báo thù người mà làm cho người bị tổn thất tài vật, hoặc vì bị kích thích, nhân đó mà phẩn nộ đến nỗi trộm cướp và làm tổn thất của người.

c- Tà kiến trộm cướp: Vì cầu bình an, vì cầu nguyện vọng thành đạt; như trong lang tội, phụ nữ mới lấy chồng, hoặc phụ nữ lấy chồng lâu năm không có con, thích đến tự viện trộm cướp giày dép của người xuất gia và đồ cúng trang nghiêm ở điện Phật đem về nhà ép dưới gối ngủ, họ cho rằng làm như thế sẽ được sinh con trai, đây có thể coi là một loại tà kiến trộm cướp.

3. Tà dâm có 3 thứ

a- Tham dục tà dâm: Vì tham hưởng thụ khoái lạc dâm dục, bất luận là đồng lòng thông dâm, dụ dỗ thông dâm, hoặc hiếp dâm, cho đến mại dâm, vì thích khoái lạc dâm dục nên cùng với nam nữ ngoài vợ chồng sinh ra quan hệ dâm dục, đều gọi là tham dục tà dâm.

b- Sân nhuế tà dâm: Vì cừu oán gian dâm với mẹ, con, chị, em, vợ chính, nàng hầu của người. Tôi còn nhớ trong thời kỳ chiến tranh kháng Nhật, hễ vài người lính Nhật vào làng thường thường bị đội du kích Trung Quốc giết. Quân Nhật hay tin đem lính càn quét, thấy nhà liền đốt, đàn ông liền giết, thấy đàn bà con gái thì hãm hiếp hoặc luân phiên hãm hiếp, sau khi hiếp dâm rồi chém một nhát. Đây là một thứ sân nhuế tà dâm.

c- Tà kiến tà dâm: Vì cầu công đức, vì cầu phước báo, vì cầu con cái, vì cầu trường sinh, cho đến vì cầu giải thoát mà hành tà dâm. Thuở xưa có nhiều tôn giáo mê tín, như Đạo giáo của Trung Quốc có thuyết “Phòng Trung Thuật”, cho rằng lấy âm để bổ dương, lấy dương để bổ âm, nam nữ giao cấu là pháp tu luyện trường sinh bất lão. Tương tự, trong Ấn Độ giáo, quan điểm tà kiến này cũng cho rằng có thể giải thoát ở trong sự khoái lạc dâm dục giữa nam và nữ, nói là “tánh mạng song tu”,
“thân tâm song tu”. Còn có một thứ tà kiến là một số nam nữ kết hôn với nhau lâu năm không có con, có hành vi mượn thai mượn giống. Kỳ thật, muốn từ trong phương pháp phóng túng dâm dục để được trường sinh, thiền định, giải thoát, công đức, phước báo, con cái, ấy là việc tuyệt đối hoang đường.

4. Vọng ngữ có 3 thứ

a- Tham dục vọng ngữ: Vì tham danh tiếng lợi dưỡng, vì tham tửu sắc, thế lực.

b- Sân nhuế vọng ngữ: Vì là cho oan gia bị gạt, vì khiến cho người cùng phi nhân cho đến súc sinh não loạn mình và chướng ngại mình bị sự tàn hại cho nên vọng ngữ. Vì giận hờn mà ác khẩu và lưỡng thiệt là điều rất phổ biến.

 c- Tà kiến vọng ngữ: Cho rằng nói dối có thể tránh được nạn, mắng người có thể tiêu tai. Tỷ như người dân quê ở Trung Quốc khi cảm mạo có người dùng tờ giấy viết mấy chữ: Xuất mại trọng thương phong, nhất niệm tựu thành công” dán ở trên cây bên đường hoặc trên vách tường, ấy cũng là một loại tà kiến vọng ngữ.

5. Uống rượu có 3 thứ

a- Tham dục uống rượu: Vì muốn thỏa mãn cái miệng, cái bụng, tham sự kích thích của men rượu, vì cầu sự hưng phấn dẫn khởi cho sắc dục (uống rượu và người đẹp thường thường không thể tách rời nhau).

b- Sân nhuế uống rượu: Như nói: “Mượn rượu giải sầu”, người ta lúc phẫn nộ hoặc thất ý thường dùng rượu để giải sầu, kỳ thật, đâu phải không nghe nói “Mượn rượu để giải sầu càng thêm sầu” hay sao?

c- Tà kiến uống rượu: Vì cầu dưỡng sinh, vì cầu đắc đạo thành thần tiên, vì cầu sinh lên trời mà uống rượu. Tỷ như có một số người cho rằng uống rượu hữu ích cho rự tráng kiện. Có người cho rằng Lý Thái Bạch uống rượu rốt cuộc thành tửu tiên. Có tôn giáo cho rằng rượu có khả năng thông thần, trong các vị thần cũng có tửu thần. Ngoại đạo lõa thể ở Ấn Độ thậm chí cho rằng uống rượu giúp cho sự giải thoát. Những thuyết này đều là tà kiến, đều là kiến điên đảo. Tôi xin can quý độc giả. Quý vị thấy một người say rượu mặt đỏ gay, mắt đầy tia máu, mùi rượu nực nồng, quý vị có cảm tưởng gì? Cho là đáng ghét hay đáng yêu?

Ngũ giới phối hợp thập thiện, đã thuyết minh như trên, sau khi hiểu rõ nội dung của ngũ giới, chúng tôi có thể giới thiệu về sự nạp thọ giới thể của ngũ giới như thế nào ở chương sau.

...................................

 

 

Chương 2. Phương Pháp Cầu Thọ Ngũ Giới Và Công Đức

 

I. NẠP THỌ NGŨ GIỚI NHƯ THẾ NÀO?

Thiên trước đã nói người thọ tam quy rồi, nếu muốn tiến thêm một bước để được sự lợi ích thiết thực của sự tin Phật học Phật, cần phải cầu thọ ngũ giới mới được coi là bất đầu học điều Phật học, hành điều Phật hành. Quy y Tam bảo chỉ là vào cổng thôi, nếu như sau khi vào cổng, dừng chân ở dưới hành lang mà không lên nhà trên, không vào phòng ốc, không lên lầu tham quan, không lên mỗi tầng cho đến tầng cao nhất, thì chỉ có thể coi là đệ tử Tam bảo kiểu “tài tử” (không chuyên nghiệp), ngày nay gọi là “nghiệp dư”. Do đó, xin khuyên người đã quy y Tam bảo tốt nhất là nên thọ ngũ giới để thành người Phật tử tại gia đúng tiêu chuẩn (Ưu bà tắc và Ưu bà di). Nghe thuyết Phật pháp có thể kiến đạo, thọ trì ngũ giới có thể chứng đạo, cao nhất là chứng được tam quả A na hàm, tiến vào vị Bất hoàn, sinh lên Tịnh cư thiên tu thành quả A la hán. Vì thế, công năng của ngũ giới ít nhất là bảo đảm được sinh lên loài người, loài trời, cao nhất là làm chiếc bè báu vượt khỏi biển cả sinh tử. Đã tin Phật học Phật sao chẳng cầu thọ ngũ giới? Nếu chăng thọ ngũ giới mà chỉ thọ tam quy là chẳng phải chân thật Ưu bà tắc (Kinh Tỳ Ni Mẫu quyển 1).

Nhưng nếu chăng biết nội dung của ngũ giới, thì tuy thọ giới cũng không đắc ngũ giới. Vì thế trước tiên nói về ý nghĩa và nội dung của ngũ giới, nay đã hiểu đại khái rồi, có thể cầu thọ ngũ giới.

Song, việc cầu thọ ngũ giới cũng chẳng giản đơn. Căn cứ quy định của Kinh Ưu bà tắc giới, cần phải thọ tam quy từ 6 tháng trở lên, sau khi đã khảo hạch về tư cách rồi mới chấp nhận truyền cho ngũ giới. Cũng có người chủ trương sau khi quy y phải có 3 năm hoặc 1 năm, ít nhất là 4 tháng, mới nhận thọ ngũ giới. Nhưng thời Đức Phật còn tại thế, đệ tử tại gia sau khi tin Phật, tam quy ngũ giới được thọ tiếp liền theo nhau. Tỷ như người đệ tử Ưu bà tắc đầu tiên của Đức Phật là cha của Da Du Già, sau khi tin Phật bèn nói như vầy: “Con quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, cúi xin Thế Tôn cho con được làm Ưu bà tắc. Từ nay về sau cho đến suốt đời con không sát sinh cho đến không uống rượu”. (Tứ Phần Luật, Kiền Độ Thọ Giới, phần II). Nhân đây đủ thấy sau khi thọ tam quy không cần phải trải qua thời gian 4 tháng, 6 tháng cho đến 3 năm. Nhưng cũng có người nói thời Phật con người lợi căn đâu có thể như vậy. Trên thực tế, thông thường chúng ta không xét đến vần đề này. Có người quy y Tam bảo mà không cầu thọ ngũ giới; có người vừa vào cửa Phật, gặp được cơ hội truyền giới bèn thọ Tam quy ngũ giới một lượt. Điều này tại nước Thái Lan có sự bất đồng, đệ tử tại gia người Thái, nhằm ngày vía Phật, mỗi lần họ vào tự viện đều thọ Tam quy ngũ giới. Tôi nghĩ, ấy là làm cho giới phẩm càng kiên cố, chứ chẳng phải vì mất giới mà thọ lại. Điều này, Trung Quốc cũng nên bắt chước, bởi nó có quan hệ với sự tu trì pháp lục niệm: Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên. Lục niệm phải thường niệm, vì thế tam quy ngũ giới phải thường thọ trì.

Theo trong Luật nói về thọ ngũ giới đều hướng về thầy nói (như cha của Da Du Già) chẳng phải nói theo sự hướng dẫn của thầy. Như muốn thành ngũ giới Ưu bà tắc hoặc ngũ giới Ưu bà di, chỉ cần hướng về một vị A xà lê nói một lần là được, không có phô trương nghi thức nào hết. Nhưng các tổ sư Trung Quốc như Đại sư Độc Thể cho rằng: “Hiện nay đương thời mạt pháp khác xa với thời đức Phật, cần phải nhờ thánh duyên giúp cho sinh chánh tín” (Tam Quy Ngũ Giới Bát Giới Chánh Phạm), vì thế Ngài biên soạn một bộ Tam Quy Ngũ Giới Bát Giới Chánh Phạm đến nay vẫn là bộ sách căn cứ cho sự truyền thừa giới pháp của Phật giáo Trung Quốc thời cận đại lúc giới pháp chẳng thịnh hành.

Sự truyền thọ giới pháp có nhiều thuyết bất đồng. Có thuyết nói: Có thể tự nói, tự thọ. Có thuyết nói: Có thể hướng về người chẳng phải Phật tử thọ (như trong Kinh Phật Thuyết Tiêu Tai, có vợ của một con quỷ ăn thịt người, nói tam quy ngũ giới cho con quỷ ăn thịt người nghe, quỷ ấy thọ trì đắc giới). Có thuyết nói: Có thể ở trước năm chúng xuất gia (Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Thức xoa ma na, Sa di, Sa di ni) thọ; cho đến chỗ không có người xuất gia, có thể hướng về người bạch y (cư sĩ) thọ ngũ giới. Có thuyết cho rằng cần phải có nghi thức ít nhất cũng phải được ở trước một vị Thượng tọa Tỳ kheo thọ. Ý kiến chiết trung hơn hết là có Thượng tọa trưởng lão Tỳ kheo, phải hướng về trưởng lão Tỳ kheo thọ. nếu không có, phải hướng về một vì Tỳ kheo thanh tịnh thọ. Nếu không có Tỳ kheo thanh tịnh, có thể hướng về Thức xoa ma na thanh tịnh thọ (Phật giáo Trung Quốc không có chúng này). Nếu không có Thức xoa ma na thanh tịnh, có thể hướng về Sa di thanh tịnh. Nếu không có Sa di thanh tịnh, có thể hướng về Sa di ni thanh tịnh thọ. Nếu không có Sa di ni thanh tịnh, có thể hướng về bạch y cho đến chẳng phải đệ tử Phật và chúng sinh loài khác mà thọ.

Hiện tại ở Trung Quốc vâng còn rất nhiều Tỳ kheo, ngũ giới phải nên ở trước Tỳ kheo thọ.

Tùy phần thọ và toàn bộ thọ ngũ giới cũng có những thuyết bất đồng. Trong phẩm thọ giới của Kinh Ưu bà tắc giới nói: “Nếu thọ tam quy rồi, thọ trì hai giới gọi là thiểu phần. Đã thọ tam quy, thọ trì hai giới rồi, nếu phá một giới gọi là vô phần. Nếu thọ tam quy, thọ trì 3, 4 giới gọi là đa phần; thọ trì đủ ngũ giới gọi là mãn phần (vì giới do tâm quy mà đắc, cho nên đều có nói tam quy). Đây là cho phép tùy phần thọ trì ngũ giới, song phải xem năng lực của mỗi người có thể thọ bao nhiêu giới thì cho thọ bấy nhiêu, chẳng nên ép buộc họ, vì hễ thọ rồi, nếu phá một giới gọi là vô phần”. Thật ra, nếu trì ngũ giới, hễ phá một giới cũng gọi là vô phần. Nếu như chỉ trì một giới kiên trì không phạm, được gọi là nhất phần Ưu bà tắc hoặc Ưu bà di. Nhưng, trong Tát Bà Đa Tỳ Ni Bà Sa quyển 1 nói về Tùy phần thọ giới, ý kiến lại bất đồng. Hỏi: “Người thọ Ưu bà tắc giới giả sử chẳng thể thọ đủ 5 giới cho đến 4 giới, có đắc giới chăng?”. Đáp: “Không đắc”. Hỏi: “Nếu không đắc tại sao có kinh nói có thiểu phần Ưu bà tắc, đa phần Ưu bà tắc, mãn phần Ưu bà tắc. Nghĩa này như thế nào?”. Đáp: “Sở dĩ như thế là có ý nói công đức trì giới nhiều ít, chứ chẳng phải nói có pháp thọ giới như thế”. Thật ra, trong các bộ Quảng Luật khó tìm ra căn cứ của sự có thể tùy phần thọ trì ngũ giới, đệ tử tại gia của thời Đức Phật còn tại thế phàm thọ ngũ giới đều nói như vầy: “Từ nay trở đi suốt đời không sát sinh cho đến không uốn rượu”. Nhưng, tùy phần thọ trì ngũ giới lại được đa số Tỳ kheo chủ trương. Đại sư Hoằng Nhất ở thời cận đại cũng có nói trong quyển Luật Học Yếu Lược: “Nếu không thọ được hoàn toàn thì thọ một hoặc hai hoặc ba hoặc bốn điều có thể tùy ý. Thà có thể chẳng thọ, chứ không nên thọ mà không trì”. Đây thật là xuất phát từ tấm lòng từ bi muốn hộ trì giới pháp. Ngày nay chúng ta cũng chẳng ngại gì theo chủ trương của Kinh Ưu bà tắc giới để cho người thọ giới đối với giới pháp có tâm trang nghiêm đúng đắn. Bằng không thì lạm truyền giới pháp. Chẳng những không đề xướng được tinh thần của giới luật mà còn đem giới pháp làm theo nhân tình khiến cho mất hết sự trang nghiêm. Theo Đại sư Hoằng Nhất nói: “Trong ngũ giới, dễ trì hơn hết là không tà dâm, không uống rượu, quý vị nên thọ hai giới này trước là ổn đáng nhất”.

Thời hạn thọ trì ngũ giới cũng có nhiều thuyết bất đồng. Trong Luật Thành Thật nói: “Ngũ giới, bát giới tùy ngày tháng dài ngắn, hoặc một năm, một tháng, cho đến nửa ngày, nửa đêm”. Điều này có thể tìm căn cứ ở trong bộ Quảng Luật. Thập Tụng Luật quyển 25 có ghi chép một câu chuyện như sau: “Có một người tên Ức Nhĩ đi tìm châu báu ở ngoài biển cả thoát hiểm trở về. Một đêm trên đường về, người ấy ngủ dưới một gốc cây to, thấy có một cái giường xuất hiện, người nam xuất hiện, người nữ xuất hiện, hai người đều xinh đẹp và mặc áo tốt cùng nhau hưởng lạc. Song đến khi trời sáng, chiếc giường biến mất, người nữ mất, có bầy chó lại ăn thịt người nam này, hết thịt còn trơ xương. Đêm thứ hai cũng vậy. Ức Nhĩ hỏi ra mới biết người nam kia lúc còn sống làm nghề đồ tể, ban ngày sát sinh tạo tội không rảnh làm thiện. Sau đó Tôn giả Ca Chiên Diên dạy anh ta: “Ban đêm thọ ngũ giới có thể được chút thiện”. Tiếp theo đó, ban ngày, Ức Nhĩ ở dưới cội cây to, thấy có hai giường xuất hiện, người nam xuất hiện, người nữ xuất hiện; cho đến chiều tối, thấy hàng trăm con trùng xuất hiện ăn thịt người nam này, thịt hết còn trơ xương. Ức Nhĩ hỏi ra mới biết người nam này lúc còn sống tà dâm với vợ người khác, đam mê khoái lạc chẳng tự ức chế. Sau đó Tôn giả Ca Chiên Diên dạy anh ta ban ngày thọ ngũ giới có thể được chút thiện. Đây nói ngũ giới có thể một ngày thọ, một đêm thọ, có thể chỉ thọ ban ngày hoặc chỉ thọ ban đêm, chỉ cần thọ rồi là có công đức, là có thiện báo. Nhưng trong Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa quyển nói: “Nếu thọ ngũ giới phải suốt đời thọ”. Trong Tứ Phần Luật cũng chủ trương ngũ giới phải thọ suốt đời đến già chết mới thôi, thọ một lần là vĩnh viễn thọ. Nhưng có một giải thích chiết trung: Giới có pháp thọ cũng có pháp xả, thọ rồi lại xả, xả rồi lại thọ cũng được. Sau khi thọ giới cần phải trì giới. Nếu như xả giới, tuy làm nghiệp ác cũng không có phạm tội giới mà công đức trì giới trước kia vẫn còn. Do đó, chúng thọ ngũ giới nên nghĩ tưởng là suốt đời. Nếu chẳng trì được thì tùy thời có thể xả từng giới hoặc xả toàn bộ. Trong Luật Tát Bà Đa nói: Gặp nhân duyên ác bức bách muốn xả giới, không cần ở trước 5 chúng xả, xả trước một người cũng được. Muốn xả giới, tùy thời tìm người hiểu được lời mình nói, nói một lần “Tôi xả giới nào đó”, liền thành xả giới. Như sau khi xả muốn thọ giới lại cũng không khó. Trong bộ Nghĩa Sao có nói nếu tự nhiên tâm muốn sắp phạm giới, thà nên xả về sau sám hối thọ lại cũng được. Theo đây có thể biết thời hạn ngắn dài của sự thọ ngũ giới chẳng phải là vấn đề nghiêm trọng, chỉ cần hiểu rõ quy cũ đạo lý của thọ và xả mà làm là được.

Trước khi thọ ngũ giới, cũng có sự hạn định về tư cách. Trong Luận Tát Bà Đa quyển 1 nói: “Phàm đắc Ba la đề mộc xoa giới, trung ngũ đạo (trời, người, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục) chỉ có loài người đắc giới”. Lại nói: “Tuy trong kinh có nhiều chỗ nói rồng thọ trai pháp…, thọ công đức lành, song chẳng đắc trai”. Từ ngũ giới cho đến Bồ tát giới gọi là Ba la đề mộc xoa, dịch nghĩa là: Biệt giải thoát; trì một giới có công đức giải thoát của một giới; biệt biệt trì, biệt biệt giải thoát, cho nên gọi là Biệt giải thoát giới. Trừ loài người ra, chúng sinh ở các loài khác đều chẳng thể đắc giới. Nhưng nói theo Đại thừa Bồ tát giới, chúng sinh trong ngũ đạo, chỉ trừ địa ngục, người thọ giới hiểu được lời nói của Pháp sư tất cả đều đắc giới. Trong các bộ Luật cũng đều có ghi chép Long vương thọ ngũ giới và thiên nhân thọ ngũ giới, nhưng điều này không quan trọng lắm so với loài người chúng ta.

Điều quan trọng ở trong loại người là cũng có người không đủ tư cách cầu thọ ngũ giới, đó là người phạm tội ngũ nghịch và tự phá tịnh giới hoặc phá tịnh giới của người khác. Người làm Ngũ giới A xà lê (Quỹ phạm sư) trước khi truyền giới cho người phải hỏi rõ có phạm tội ngũ nghịch không? Có tự phá tịnh giới hoặc phá tịnh giới của người khác không? Nếu như chẳng hỏi mà truyền, người thọ giới cần thọ giới, tuy cầu giới cũng không được đắc giới.

Tội ngũ nghịch là giết cha, giết mẹ, giết A la hán, phá hòa hợp Tăng, làm thân Phật chảy máu. Trên thực tế trong tội ngũ nghịch người thế tục ngày nay chỉ có thể phạm hai tội ngũ nghịch là giết mẹ và giết cha. Không được sống đồng thời với Phật, vì thế không thể làm thân Phật chảy máu được (trong Phật giáo sử chỉ có một người là ông Đề Bà Đạt Đa phạm tội này). Người đời không thể phá Tăng, phá Tăng có hai thứ: Phải có tám thầy Tỳ kheo hoặc Tỳ kheo ni trở lên mới có thể phá yết ma Tăng. Phải có chín thầy Tỳ kheo trở lên, một người tự xưng là Phật, mới có thể phá chuyển pháp luân Tăng. Người nữ cũng không thể pháp Pháp luân tăng, nhân vì người nữ cũng không thể ngay nơi thân này thành Phật, vì thế không thể tự xưng là Phật (Trong Phật giáo sử chỉ có một người là ông Đề Bà Đạt Đa phạm tội ngũ nghịch phá chuyển pháp luân tăng). Vào thời mạt pháp rất khó có A la hán xuất thế, muốn giết các Ngài đâu phải là việc tầm thường!

Tự phá tịnh giới và phá tịnh giới của người khác là việc có thể xảy ra. Sau khi thọ giới phạm tội trọng bất khả hối gọi là tự phá tịnh giới. Người khác trì giới mà lần đầu tiên làm cho người ấy phá giới, gọi là phá tịnh giới của người. Điều này ở trên đã có nói.

Theo quy cũ, ngũ giới, bát giới đều phải thọ riêng từng người, chẳng được thọ tập thể đông người, nhưng trường hợp truyền giới hiện nay phần nhiều là tập thể. Xét về lý do của sự thọ riêng từng người là vì muốn cho tâm chẳng duyên bên ngoài, trong khung cảnh yên tĩnh thì sự khai đạo của Giới sư và nạp thọ giới thể tam quy ngũ giới có thể được nhất tâm nhất ý, thọ đắc thượng phẩm giới thể. Bằng không, người đông đảo ồn ào, tâm chẳng yên tịnh cũng chẳng chuyên nhất ấy là sai rồi, thậm chí không thể đắc giới. Do đó, giới phẩm phân làm thứ hạng:

1. Nếu ngay lúc thọ giới, vừa nghe pháp ngữ của Giới sư tâm liền khai thông phát, tâm rộng lớn tối thượng duyên khắp pháp giới tất cả hữu tình vô tình, đều nguyện đoạn trừ tất cả tội ác, đều nguyện tu trì tất cả thời hạnh, đều nguyện rộng độ tất cả chúng sinh, đắc thượng phẩm ngũ giới.

2. Nếu ngay lúc thọ giới, tuy nghe Giới sư khai đạo cùng duyên tất cả cảnh hữu tình, vô hình, song tâm nguyện không lớn, chỉ cần tự thoát sinh tử, hoàn toàn không có tâm độ chúng sinh, đắc trung phẩm ngũ giới.

3. Nếu ngay lúc thọ giới cũng nghe Giới sư khai đạo hoặc vì tánh trí kém cỏi hoặc vì tâm ý tán loạn cho nên duyên cảnh chẳng khắp, chỉ đắc giữ gìn giới tướng không thể phát huy công dụng của giới thể, đắc hạ phẩm ngũ giới.

Nếu như tâm ý tán loạn, hoặc giả nghe không rõ lời của Giới sư, hoặc giả nghe như không nghe không biết gì hết, chỉ theo chúng quỳ xuống đứng lên, như thế chỉ có gieo căn lành nhưng không đắc giới. Nhưng lúc truyền ngũ giới tập thể, tình hình này xảy ra rất nhiều. Vì thế nếu có phương tiện, tốt nhất là nên thọ giới riêng từng người.

Căn cứ vào việc bộ Ngũ Giới Chánh Phạm của Đại sư Độc Thể biên soạn gồm có mười mục nghi tiết trừ nội dung bất đồng, còn phương thức tương tợ với nghi tiết thọ tam quy. Mười mục nghi tiết như sau:

1. Trải tòa thỉnh sư: Do người xuất gia đã rành nghi thức chỉ dẫn.

2. Giới sư khai đạo: Giới sư diễn nói về ý nghĩa của ngũ giới, nói về tính cách trọng yếu của việc thọ ngũ giới đối với sự tin Phật, học Phật.

3. Thỉnh Thánh: Phụng thỉnh Phật, Pháp, Hiền Thánh Tăng chưng minh thọ giới; phụng thỉnh Phạm Thiên, Đế Thích, Hộ pháp, quỷ thần giám đàn hộ giới.

4. Sám hối: Sám trừ tất cả tội nghiệp từ vô thỉ đến nay để cầu thân tâm thanh tịnh nạp thọ giới thể, đổi mới con người cũ (Phật cũng từ trong loài người mà thành Phật).

5. Vấn giá nạn: Hỏi người thọ giới trong đời này, từ trước đến nay có tạo những tội lỗi lớn mà Phật pháp chẳng chấp nhận chăng? Nếu có làm tức thành giá chướng khó được thọ giới, cho nên gọi là giá nạn. Đại sư Độc Thể nêu ra 7 điều cũng là tội nghịch, đoạn trên tôi đã nói và thêm vào sự triển khai tội phá tịnh giới “(1) Trộm vật của chúng Tăng. (2) Hành dâm với nam nữ trong lục thân. (3) Phá phạm hạnh của Tăng Ni. (4) Lúc cha bệnh bỏ đi chẳng ngó ngàng. (5) Lúc mẹ bệnh bỏ đi chẳng ngó ngàng. (6) Lúc Sư trưởng bệnh bỏ đi chẳng ngó ngàng. (7) Giết hại chúng sinh phát tâm Bồ đề.

6. Thọ tam quy: Ngũ giới lấy lúc truyền đọc văn tam quy tức là nạp thọ giới thể, tam quy tam kết cùng với tam nghi tam quy tương đồng.

7. Khuyên giới tướng: Trước tiên hỏi người thọ giới có thể trì được bao nhiêu phần giới, sau đó tuyên đọc giới tướng của ngũ giới suốt đời không sát sinh cho đến không uống rượu. Mỗi giới đều đáp rõ trì được hay không (nhưng trong khoa văn dường như làm chuyên vì người mãn phần thọ mà làm).

8. Phát nguyện: Khai thị người thọ giới phát đại Bồ đề tâm.

9. Khuyến chúc: Khuyến cáo người thọ giới đã phát tâm thọ giới, phải nên y theo lời dạy vâng làm.

10. Hồi hướng: Đem công đức thọ giới này hồi hướng pháp giới chúng sinh.

Đối với nghi thức truyền thọ ngũ giới, Đại sư Độc Thể có nói trong điều lệ quy giới: “Nay theo nghi thức của bộ Chánh Phạm này, phải ở trước vị Trưởng lão Tỳ kheo thọ”. Lại, vì vị Trưởng lão trong chùa đều là Phương trượng Hòa thượng, cho nên đối với Giới sư không gọi là A xà lê mà gọi là Hòa thượng, đến như “Nếu là Trưởng lão chưa từng thống lãnh chúng, không nhận chức Phương trượng, hoặc hai ba vị đồng tu, hoặc ở một mình không có bạn, nếu bỗng gặp thiện tín phát tâm đến cầu giới, cũng có thể khai đạo và cho thọ giới. Phát nguyện mà thôi, còn các mục khác chẳng cần dùng hết”.

Từ nội dung của nghi thức thọ giới do Đại sư Độc Thể biên soạn, chúng ta thấy từ tam quy đến Bồ tát giới đều là dùng quy mô của Đại thừa giới. Thật ra, trong Kinh Ưu bà tắc Giới cùng với ngũ giới phổ thông chẳng hoàn toàn giống nhau. Đây là điều mà Đại sự Ngẫu Ích cuối đời nhà Minh và Đại sư Thái Hư của thời cận đại đều có bàn đến. Đương nhiên, nếu có thể cho làm được tất cả giới toàn bộ chuẩn theo Đại thừa Bồ tát giới, đó là điều rất tốt, không có lỗi lầm gì. Song vì căn cơ và hoàn cảnh bất đồng nên bất tất phải làm cho mọi người một khi vào cửa Phật đều muốn họ thành bậc đại Bồ tát thực hành đạo Bồ tát được.

Đại sư Ngẫu Ích biên tập phương pháp thọ ngũ giới đơn giản rõ ràng thực tế hơn, tôi xin phép lại như sau để cùng tham khảo:

Con là … quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, suốt đời làm (nhất, hoặc thiểu, hoặc đa, hoặc mãn) phần Ưu bà tắc, Như Lai chí chân Đẳng chánh giác là Thế Tôn của con (3 lần).

Con là … quy y Phật rồi, quy y Pháp rồi, quy y Tăng rồi, suốt đời làm (nhất, hoặc thiểu, hoặc đa, hoặc mãn) phần Ưu bà tắc, Như Lai chí chân Đẳng chánh giác là Thế Tôn của con (3 lần).

Nếu là thiện nữ thì xưng là Ưu bà di.

Như chư Phật suốt đời không sát sinh, con là … suốt đời cũng không sát sinh.

Như chư Phật suốt đời không trộm cướp, con là … suốt đời cũng không trộm cướp.

Như chư Phật suốt đời không dâm dục, con là … suốt đời cũng không tà dâm.

Như chư Phật suốt đời không vọng ngữ, con là … suốt đời cũng không vọng ngữ.

Như chư Phật suốt đời không uống rượu, con là… suốt đời cũng không uống rượu.

Đem công đức thọ giới này hồi hướng vô thượng Bồ đề, bốn ân đều báo, ba cõi đều nhờ, cùng khắp chúng sinh đồng sinh tịnh độ.

Người tại gia thọ ngũ giới vốn là việc rất phổ thông, chỉ cần đối trước một vị Giới sư (tiếng Phạn gọi là A xà lê) có thể tự nói mà thọ. Nếu như mình không biết cách thọ và nội dung của ngũ giới, thỉnh Giới sư chỉ dạy lời thọ giới cũng được. Thời gian gần đây mọi người đều coi việc truyền ngũ giới là một đại Phật sự; bày biện phô trương làm nhọc Giới sư và làm động chúng. Điều này tuy làm trang nghiêm cho giới pháp, nhưng lại đem giới pháp nhận chìm trong hình thức rườm rà vô ích.

Do đó, tôi hy vọng Phật giáo Trung Quốc ngày nay đề nay đề xướng cách truyền thọ ngũ giới phổ biến, trừ trường hợp có tính cách tập thể, cần phải tham khảo Ngũ Giới Chánh Phạm của Đại sư Độc Thể, ngoài ra đều có thể bỏ bớt những tiết mục rườm rà. Tôi xin đề nghị một nghi thức thông thường thọ ngũ giới có 5 tiết mục như sau:

1. Thỉnh sư khai đạo nội dung ngũ giới (nói chỗ trọng yếu), dạy người thọ ngũ giới nói lời phát nguyện thọ giới (nếu người thọ giới đã biết, khỏi phải dạy).

2. Vấn giá nạn (thông thường chỉ hỏi giết cha, giết mẹ, tự phá tịnh giới và phá tịnh giới của người khác là được)

3. Tam quy tam kết (theo nghi thức của Đại sư Ngẫu Ích ở đoạn trên).

4. Tuyên đọc hoặc tùy phần tuyên đọc giới tướng ngũ giới (theo nghi thức của Đại sư Ngẫu Ích đã nêu ở đoạn trên).

5. Phát nguyện hồi hướng (Dùng kệ hồi hướng thông thường cũng được, hoặc mỗi người tự bạch vài lời phát nguyện của mình cũng được).

Một lần thọ giới mất thời gian tối đa không quá 15 phút. Thọ ngũ giới giản đơn như thế so với trường hợp bày biện lớn lao thì thực tế và dễ đắc giới hơn. Đồng thời, Giới sư cũng có thể trong một ngày truyền giới riêng cho nhiều người mà chẳng mất sức khỏe, và cũng có thể tùy chỗ, tùy nơi mà truyền giới cho người.

II. CÔNG ĐỨC CỦA SỰ THỌ TRÌ NGŨ GIỚI

Nói đến giá trị cứu cánh của Phật giáo là nói đến “Tam luân thể không”, nghĩa là người làm, công việc được làm, tác dụng do việc làm sinh ra, cả ba hoàn toàn không, chẳng chấp có không, mới là mục đích cuối cùng của sự học Phật. Vì thế tất cả thiện hạnh tự không có công đức để nói. Nhưng tại phàm phu mà nói, muốn làm đến một bước công phu này chẳng được; bằng không, người đó đã chẳng phải là phàm phu.

Người đi thuyền mục đích không phải là ở tại đi truyền, nhưng đi thuyền cốt làm cho người ta đạt đến mục đích họ mong muốn, thuyền chỉ là công cụ mà thôi. Cũng vậy, người thọ ngũ giới mục đích không phải ở tự bản thân của sự thọ giới, nhưng thọ giới lại khiến cho người ta đạt đến mục đích của sự học Phật, giới chỉ là phương tiện mà thôi. Từ trong pháp thế gian lợi dụng công cụ hoặc lợi dụng phương pháp, ắt hẳn sẽ sinh ra được lợi ích hoặc tội lỗi. Thọ ngũ giới là phương pháp làm thiện, cho nên cũng chắc chắn sinh ra công đức.

Tu trì ngũ giới thập thiện, nếu phát tâm xuất ly có thể do đây chứng được Sơ quả cho đến Tam quả (Tứ quả cần phải xuất gia), như Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da quyển 1 có ghi: Tỳ kheo Tiểu Lộ khéo dùng thí dụ nói nửa bài tụng về pháp thập thiện, nói chưa xong nửa bài tụng thì trong chúng liền có một vạn hai ngàn hữu tình xa lìa trần cấu đắc pháp Nhãn tịnh, mắt thấy chân đi, hoặc đắc Noãn pháp, cho đến hoặc có người nhân đây xuất gia rồi chứng quả A la hán. Do đó mà biết ngũ giới thập thiện là bước đầu học Phật và cũng do đây mà bước vào lĩnh vực Thánh Hiền liễu sinh thoát tử.

Nếu chỉ cầu phước báo nhân thiên, hoặc người có sức trì giới bạc nhược, cũng có thể nhân đây chẳng bị đọa tam đồ, cuối cùng nhân duyên thành thục, phát tâm xuất ly vượt ra tam giới (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới). Nếu như toàn bộ ngũ giới không thể thanh tịnh, chỉ kiên trì được một giới cũng có thể giữ được thân người. Sự trì giới nhiều ít và giới lực mạnh yếu (chỉ cho đối với tội khinh khả hối trì phạm nhiều ít mà nói), có thể quyết định sau khi bỏ một thân này sinh vào cảnh giới nhân thiên. Cao nhất của trì ngũ giới là có thể sinh lên cõi trời thứ sáu (theo thứ tự kể xuống), ít nhất cũng có thể làm một thân người bình thường. Nếu muốn lên trời Sắc giới cho đến cõi trời Vô sắc giới phải tu thiền định đạt đến sơ thiền trở lên mới có thể tiến vào cõi trời Sắc giới. Đồng thời, Sắc giới, Vô sắc giới chẳng do ngũ giới được, mà phải do thiền định tiến thủ. Vì thế ngoại đạo chẳng trì Phật giới, nếu như công phu thiền định đủ cũng có thể tiến vào cõi trời Sơ thiền trở lên. Từ trong Kinh luật chúng ta thấy công đức tu phước báo nhân thiên, hơn phân nửa là sinh lên cõi trời Tứ Thiên Vương và cõi trời thứ Ba mươi ba (Đao Lợi).

Nhưng từ trên quan điểm Phật pháp mà nói, sinh lên trời không tốt bằng sinh lên tại nhân gian. Tuổi thọ ở cõi trời từ cõi trời Tứ Thiên Vương trở lên, mỗi tầng mỗi nhiều hơn. Trời Tứ Thiên Vương lấy 50 năm của nhân gian làm một ngày, bình quân tuổi thọ là 500 năm. Đến cõi trời thứ sáu Tha Hóa Tự Tại lấy 1600 năm của nhân gian làm một ngày, bình quân tuổi thọ là 16.000 năm. Đối với sự hưởng thọ ngũ dục, mỗi từng trời cao hơn lại thù thắng hơn, nhưng Thiên nhân rốt cuộc cũng phải chết, phước trời cũng có lúc cùng tận. Đến cõi trời chỉ là hưởng phước, khó có tâm cầu phước, cũng ít có cơ hội để cầu phước. Phước trời hết, sau khi chết vẫn bị đọa, có thể chẳng còn được thân người mà lại vào tam đồ. Trong Luật có ghi: Đệ tử tại gia của Tôn giả Mục Kiền Liên là ông Kỳ Bà, là một vị danh y đương thời, sau khi quy y Tam bảo trị bệnh miễn phí cho Tăng Ni, nhờ công đức sau khi chết sinh lên cõi Trời thứ 33. Một hôm, Tôn giả Mục Kiền Liên có một đệ tử bệnh không biết trị liệu thế nào, Ngài bèn dùng thần túc bay lên cõi trời 33 hỏi Kỳ Bà. Lúc ấy, gặp các vị Thiên nhân đang đi xe du ngoạn ở hoa viên, không có ai để ý đến Tôn giả Mục Kiền Liên đang đứng bên cạnh, Kỳ Bà trông thấy cũng chỉ giơ tay vẫy chào rồi vẫn cho xe chạy nhanh. Tôn giả Mục Kiền Liên dùng thần lực dừng xe ấy lại và trách Kỳ Bà: “Ông thấy ta sao chẳng xuống xe kính lễ?”. Kỳ Bà thưa: “Cần kíp hưởng lạc nên không tự chủ được”, và nói “Tôi giơ tay vẫy chào cũng là khá lắm, chứ các Thiên nhân kia, không ai ngó ngàng gì đến Ngài”. Câu chuyện này đủ cho ta thấy sau khi sinh lên Trời, mê đắm trong sự hưởng thụ dục lạc quên mất sự học Phật tu hành, cũng không có tâm kính lễ Tam bảo.

Nhân gian là khổ, nhưng ở trong ngũ đạo chỉ có loài người nhân vì thọ khổ mà hành thiện cầu phước. Vì thế đoạn trên có nói chỉ có loài người thọ giới đắc giới Phật giáo là Phật giáo của nhân gian, học Phật trì giới tuy có thể được quả báo sinh lên trời, nhưng người chân chính học Phật chẳng cầu sinh lên trời. Điều này trong Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da quyển 49 có ghi một sự tích: Có một thầy Tỳ kheo trì giới, ban đêm ngồi trên một cái giường thấp nhập định. Trong định bị một con rắn độc cắn trên trán, tuy trúng độc thân chết mà vẫn chưa biết, vì thầy chưa chứng đạo nên chưa ra khỏi tam giới. Lúc xuất định, thầy thấy có 500 thể nữ vây quanh trước sau, hỏi ra mới biết mình sinh lên cõi Trời thứ 33. Các thiên nữ mời thầy ra mắt vua Trời là Đế Thích, song thầy chưa nhiễm dục lạc trái lại thầy còn cho rằng thiên nữ phá thầy cho nên thầy cảm thấy khó chịu và nói : “Tôi chỉ lễ Phật đà chẳng lễ Thiên Đế và muốn Thiên Đế đến lễ kính tôi!”. Thiên nữ hỏi lý do, Thầy đáp: “Chỉ cần vào trong vườn đẹp này xuất gia, có thể được Thiên Đế Thích kính lễ”. Nhân đây, thầy mạnh dạn bỏ sự hưởng thụ phước Trời, trở lại cuộc sống xuất gia. Qua chuyện này đủ thấy người có tâm học Phật chẳng cần cầu hưởng phước Trời.

Tất cả nghiệp lực có thể do nguyện lực của mỗi người chuyển biến, nếu như nhận công đức thọ trì ngũ giới có thể được quả báo sinh lên cõi trời, nguyện đem công đức này sinh trở lại nhân gian đời đời kiếp kiếp thấy Phật nghe pháp, hoặc làm trưởng giả, cư sĩ hộ trì Phật pháp, hoặc làm Tăng bảo thanh tịnh hoằng pháp lợi sinh. Nếu như không chịu như thế hoặc do chí nguyện bất đồng cũng có thể nguyện đem công đức trì giới này hồi hướng vãng sinh Tây phương Tịnh độ, tăng trưởng phẩm vị của đài sen, đến lúc mạng chung Phật đến tiếp dẫn, hoa nở thấy Phật, được bất thoái chuyển.

Công đức của ngũ giới, tùy theo người mà có khác. Người tại gia có thể do Bố thí cầu phước, nhưng công đức của thọ ngũ giới còn vượt lên tất cả công đức Bố thí tài vật. Tôi xin cầu mong nam nữ tại gia phát tâm thọ ngũ giới, thọ ngũ giới rồi chẳng cần cầu sinh lên cõi trời, tốt nhất là nương nơi nguyện lực trở lại nhân gian; bằng không, cũng nên vãng sinh Tây phương Tịnh độ.

Ngay nơi hiện đời, người trì ngũ giới có thể giảm bớt những phiền não và tai nạn hiểm nghèo, ít nhất là không còn nhân vì sát sinh, trộm cướp, tà dâm, vọng ngữ, uống rượu mà sinh tại họa.

Lại, theo Kinh nói: Trì mỗi một giới có 5 vị thiện thần thường theo bên mình bảo vệ. Nếu trì ngũ giới có 25 vị thiên thần theo bên mình bảo hộ, khiến cho cuộc sống đều được an ổn, gặp dữ hóa lành.

Phật pháp chẳng những làm cho người ta được an lạc vĩnh cửu mà còn làm cho người ta an lạc ở hiện đời. Thọ trì ngũ giới là viên ngói gõ cửa để cầu lấy hai thứ báu an lạc này.

Xã hội lý tưởng của Phật giáo nhân gian là dùng thập thiện làm tiêu chuẩn. Ngũ giới nếu được mọi người hành trì rộng rãi thì thế giới đại đồng của Nho gia đề xướng liền trở thành hiện thực.

..........................................

 

 

 

THIÊN THỨ TƯ. Bát Quan Giới Trai

 

Chương 1. Bát Quan Giới Trai Và Nội Dung

 

I.LỜI MỞ ĐẦU

Con đường học Phật là tiến từng giai đoạn, là từng lớp tiến lên. Quy y Tam bảo chỉ là bước đầu tiến vào cửa của sự tin Phật, học Phật. Ngũ giới thập thiện mới là sự mở đầu đi vào con đường học Phật. Trong luật điển thời Đức Phật tại thế, hễ thọ tam quy ắt thọ luôn cả ngũ giới. Vì thế, tam quy ngũ giới từ trên sự yêu cầu căn bản mà nói, là phân ra không được. Người đời sau chỉ thọ tam quy không thọ ngũ giới, chỉ là kế thích nghi tạm thời tiếp dẫn chúng sinh mà thôi.

Thọ tam quy ngũ giới chỉ cầu vâng làm đúng như pháp, tuyệt đối có thể bảo đảm không đọa tam đồ (súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục). Công đức của ngũ giới có thể bảo đảm sinh ở loài người, cho đến có thể sinh lên Trời thành thiên nhân.

Nhưng mục đích cuối cùng của Phật pháp là dạy người liễu sinh thoát tử, quy y Tam bảo là làm cho chúng sinh không bị đọa vào tam đồ, cũng chỉ là một kế thích nghi tạm thời của sự liễu sinh thoát tử. Trước tiên khiến cho người chẳng bị đọa, sau khi chân đứng vững vàng còn phải tiến lên một tầng và đi trên đường vào cửa liễu sinh thoát tử, Bát quan giới trai là một con đường vào cửa liễu sinh thoát tử này.

Đương nhiên, Bát quan giới trai chỉ là khởi điểm của con đường liễu sinh thoát tử, chỉ là một cái cửa lớn, chỉ là một con đường vào cửa, lên đường rồi còn có cảnh giới cao hơn chờ đợi chúng ta. Vì thế trong kinh đều nói thọ Bát quan giới trai là chúng sinh gieo trồng chánh nhân xuất thế, mà chẳng phải quả xuất thế. Nhân vì người trì ngũ giới thanh tịnh sinh lên Trời, chỉ ở trên trời, nhưng không nhất định liễu sinh thoát tử. Bát giới sinh lên Trời,cuối cùng sẽ được kết quả Niết bàn liễu sinh thoát tử. Đây là chỗ khác nhau giữa ngũ giới sinh lên Trời và bát giới sinh lên Trời.

II. BÁT QUAN GIỚI TRAI LÀ GÌ?

Giới, trong Phật giáo, trên đại thể, gồm có 2 loại khác nhau:

1. Tiệm thứ giới.

2. Đốn lập giới.

Tiệm thứ giới là chỉ tam quy ngũ giới của tại gia; Sa di, Sa di ni, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni giới của xuất gia. Không thọ tam quy ngũ giới sẽ không thọ được thập giới Sa di, Sa di ni; không thọ thập giới Sa di, Sa di ni sẽ chẳng thọ được Tỳ kheo, Tỳ kheo ni giới. Trong quá trình từ Sa di ni tiến vào Tỳ kheo ni còn có lục pháp của Thức xoa ma na. Do vì cần phải tuần tự tiến lên tầng cấp cho nên gọi là Tiệm thứ giới. Hai chúng tại gia cộng thêm 5 chúng xuất gia thành ra 7 chúng đệ tử Phật, đều lấy tiệm thứ giới để được danh phận theo thứ tự.

Đốn lập giới chỉ cho Bát giới và Bồ tát giới của KinhPhạm Võng và Kinh Anh Lạc. Hai thứ giới này là giới biệt giải thoát ở ngoài thất chúng giới. Giới này và giới kia tuy đồng là Phật giới, nhưng không thọ tam quy ngũ giới cũng có thể thọ ngay Bát giới và Bồ tát giới (Du già Bồ tát Giới vẫn là tiệm thứ giới). Như vậy, chúng ta nói hiện tại Bát giới đã chẳng phải là một thứ giới của tiệm thứ giới của thất chúng, tại sao lại đặt bát giới ở sau ngũ giới mà giảng? Nhân vì trong Bát giới bao quát toàn bộ ngũ giới và gồm phần lớn của thập giới Sa di. Vì muốn cho dễ hiểu nên tôi đặt Bát giới ở sau ngũ giới và trước thập giới.

Nội dung của Bát quan giới trai như sau:

1. Không sát sinh.

2. Không trộm cướp.

3. Không phi phạm hạnh (không dâm).

4. Không vọng ngữ.

5. Không uống rượu.

6. Không đeo tràng hoa hương thơm, không xoa dầu thơm, không ca múa và biểu diễn các bộ môn nghệ thuật, không cố đến xem nghe.

7. Không ngồi nằm trên giường lớn cao rộng.

8. Không ăn phi thời.

Chúng ta xem qua có thể biết trong Bát giới này, trừ ba điều giới 6, 7, 8, ra, 5 điều giới trước đồng với ngũ giới, nhưng điều giới thứ ba “không tà dâm” đổi lại là “không dâm”.

T hật ra, 8 điều giới này là 9 điều giới trước của thập giới Sa di, trừ điều giới thứ 10: ”Chẳng cầm giữ vàng bạc vật báu “ra, hoàn toàn giống với Sa di giới, chỉ đem hai điều 6, 7 của Sa di giới ở đây hợp lại thành một điều giới thứ 6. Vì thế, cũng có người đem bát giới này theo Sa di giới mà phân làm 9 điều, vì trong điều giới cuối cùng: Giới “ăn phi thời” chẳng phải là giới mà là trai. Không ăn phi thời gọi là trai, quá giữa ngọ (12 giờ trưa) không ăn gọi là trì trai (trì trai chẳng phải là ăn chay), quá giữa ngọ mà ăn gọi là ăn phi thời. Bát quan giới trai cũng lấy sự trì trai này làm thể, làm chủ, làm gốc, làm trọng yếu, cho nên 8 điều trước gọi là giới, một điều sau gọi là trai. Trai có nghĩa là thanh tịnh, từ trên sự tướng nói, quá giữa ngọ mà ăn tức là tạp loạn bất định, vì thế ba đời chư Phật đều không ăn quá giữa ngọ, nhưng từ trên căn bản mà nói thì ba nghiệp thân, miệng, ý thanh tịnh là trai.

Chỗ khác biệt lớn nhất giữa Bát quan giới trai và Sa di thập giới là chỉ thọ trì một ngày một đêm trong sáu ngày trai, chẳng giống như Sa di giới phải thọ trì suốt đời. Vì Sa di suốt đời thọ trì thập giới nên có thể chứng quả cao nhất là A la hán. Bát quan giới trai chỉ thọ một ngày một đêm, tuy gieo trồng được chánh nhân xuất thế, nhưng chẳng thể ngay nơi thân này chứng quả A la hán. Đức Phật từ bi, nhưng vì trên đời mặc dù có rất nhiều người hy vọng tin Phật, học Phật để mong ra khỏi đường sinh tử, nhưng do những nhân duyên sai biệt bất đồng khiến cho nhiều người không có cách ra khỏi con đường sinh tử này. Có người vì chức nghiệp khiến cho họ không thể tự do quyết định phương thức sinh họat của mình nhắm đến, có người vì sự bó buộc của xã hội, có người vì sự ràng buộc của vợ, con v.v… Vì thế, người mong muốn đi trên con đường xuất thế thì rất đông, mà người đi được trên con đường xuất thế lại rất ít. Do đó, Đức Phật mở ra một con đường phương tiện để cho một người mong muốn đi trên con đường xuất thế mà không có cách đạt đến mục đích cũng có cơ hội đi qua sinh hoạt xuất thế để gieo trồng thiện căn xuất thế. Bát quan giới trai là pháp môn phương tiện rộng lớn này.

Bát quan giới trai đã là 9 điều trước của Sa di thập giới, cho nên phân mục thọ trì cũng gần với Sa di thập giới. Sinh hoạt xuất thế lấy sinh hoạt của Sa di làm cơ sở. làm mở đầu, phân mục thọ trì 9 giới trước của 10 giới cũng gần với phân mục của sinh hoạt xuất thế phải thọ trì. Bát quan giới trai là một ngày một đêm thọ trì, thọ thêm một lần là được lợi ích nhiều thêm một lần. Thông thường lấy các ngày mùng 8,14, 15, 23, và 2 ngày cuối tháng âm lịch gọi là 6 ngày trai. Trong 6 ngày này mỗi ngày đều thọ cố nhiên là tốt, nếu như vì sự hạn chế của hoàn cảnh chỉ thọ 5 ngày cho đến một ngày cũng tốt.

III. VÌ SAO CẦN PHẢI THỌ BÁT QUAN GIỚI TRAI?

Ý nghĩa đại khái, đoạn trước đã nói qua là gieo trồng thiện căn xuất thế, thọ trì Bát quan giới trai tuy chỉ một ngày một đêm, nhưng rốt cuộc ắt nhờ công đức này được đến quả Niết bàn. Tại sao Bát quan giới trai lại có đủ công đức như thế?

Điểm này chúng ta cần nên chú ý: Trọng tâm của Bát quan giới trai là lập ra phương pháp đóng chặt cửa sinh tử của chúng sinh. Tác dụng của Bát quan giới trai là do từ quan ải này mà chúng sinh chạy ra khỏi cửa sinh tử. Hai nguồn đại họa dâm dục và ăn uống là gốc của sinh tử. Nho gia nói: “Ẩm thực, sắc dục là tánh. Nguyên nhân căn bản khiến chúng sinh thành chúng sinh.” Theo quan điểm Phật pháp nói: “Ăn uống là trợ duyên tăng thượng của sinh tử, dâm dục là nguyên nhân căn bản của sinh tử.” Tất cả chúng sinh đều do chẳng đọan dâm dục, vì thế chẳng lìa sinh tử. Tất cả chúng sinh đều tham luyến các khoái lạc dâm dục, thành trợ duyên cho sự sinh tử của con cháu đời sau, tự thân cũng bị sợi dây sinh tử trói buộc. Chúng sinh có dâm dục là bẩm sinh. Sự giao tiếp của hai tánh (nam, nữ) hình thành sự dâm dục phải sau khi được no ấm. No ấm thuộc về ăn mặc, ăn so với mặc còn trọng yếu hơn. Có ăn không có mặc, có thể no cũng có thể ấm. Có mặc không có ăn, rốt cuộc phải bị đói mà chết. Vì thế, dâm là căn bản của sinh tử, ăn là trợ duyên sinh tử. Nếu vượt ra ngoài dâm dục và ăn uống, ắt đã liễu thoát sinh tử. Trong tam giới, dầu đến cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng của Vô sắc giới không còn có niệm dâm dục, nhưng cũng chẳng lìa thức thực, cho nên vẫn không ra khỏi sinh tử. Vì đã vượt ra sinh tử nên giới dâm. Vì ức chế dâm dục nên trì trai. Sinh họat xuất thế bắt đầu thực hiện từ giới dâm và trì trai. Ăn uống là trợ duyên của sinh tử. Dâm dục lại do ăn uống đầy đủ mà nổi dậy. Chính vì thế, trì trai tuy chẳng phải giới, nhưng lại là thể của giới.

Đến đây, người đọc sẽ hoài nghi nội dung của Bát quan giới trai rõ ràng có 8 điều hoặc 9 điều, tại sao chỉ nói dâm dục và trì trai mới là trọng tâm của Bát quan giới trai?

Vì 5 giới đầu của Bát quan giới trai, trừ giới thứ ba “không tà dâm” đổi thành “không dâm”, ngoài ra đều giống ngũ giới, đủ thấy điểm trọng yếu của nó ở tại giới dâm, cho nên cùng ngũ giới bất đồng.

Đến điều thứ 6 “Không đeo tràng hoa thơm, không xoa dầu thơm, không ca múa và biểu diễn các bộ môn nghệ thuật, không cố đến xem nghe”, và điều thứ 7: “Không ngồi nằm trên giường lớn cao rộng”, mục đích cũng là gián tiếp giới dâm. Đeo hoa, xoa dầu, biểu diễn nghệ thuật, ngồi tòa báu, nằm giường lớn, bất luận tự mình làm hay thấy người khác làm, đối với người tu hành chẳng thích nghi. Đây đều là môi giới phóng túng dâm dục, cho nên các điều giới ấy vẫn thuộc vào phạm vi giới dâm.

Đến giới thứ 8 là “trì trai” thì không cần phải giải thích nữa. Chính nhân vì Bát quan giới trai là đặt nặng ở sự giới trừ và tiết chế dâm dục cùng ăn uống; vì thế trì Bát quan giới trai là gieo trồng công đức của chánh nhân xuất thế. Người thế tục tại gia muốn gieo trồng công đức của chánh nhân xuất thế phải thọ trì Bát quan giới trai. Bất luận ông đã thọ tam quy rồi cũng tốt, thọ ngũ giới rồi cũng tốt, thọ Bồ tát giới rồi cũng tốt, đều nên thọ trì Bát quan giới trai. Vì Bát quan giới trai không có xung đột với sự thọ trì tam quy ngũ giới và Bồ tát giới. Đây chỉ là một ngày một đêm thọ, hôm nay thọ đến sáng hôm sau không còn bị sự hạn chế của giới trai này nữa. Nếu như lần sau muốn thọ trì phải thọ giới lại. Đây thật là Ba la đề mộc xoa (giới Biệt giải thoát) hết sức phương tiện mà công đức rất lớn, không giống như ngũ giới thọ trì suốt đời và Bồ tát giới thọ trì đến tận đời vị lai.

IV. NỘI DUNG CỦA BÁT QUAN GIỚI TRAI

Nội dung của Bát quan giới trai, đoạn trước đã giới thiệu sơ qua rồi, nay xin giải thích thêm một chút.

Từ giới thứ nhất đến giới thứ năm (trừ giới dâm ra không hoàn toàn tương đồng với ngũ giới), chúng tôi không giải thích nữa, độc giả nên xem lại chương thứ nhất của thiên Ngũ giới Thập thiện, giả sử một điều giới dâm, ở trong đây đã có đề cập đến “Sáu ngày trai của mỗi tháng không được hành dâm”. Nhưng người chỉ trì ngũ giới mà không trì Bát quan giới trai, tuy nói 6 ngày trai không được hành dâm, nhưng nếu có hành chánh dâm của vợ chồng cũng không kể là phạm giới. Trong điều thứ 30 của khinh cấu tội trong Kinh Phạm Võng Bồ tát Giới cũng có quy định như vầy: “Vì hàng bạch y làm mai mối cho nam nữ giao hội dâm sắc gây thành ác nghiệp kiết phược. Sáu ngày trai trong mỗi tháng, ba tháng trường trai (tháng giêng, tháng năm, tháng chín) trong mỗi năm, làm việc sát sinh, trộm cướp, phá trai phạm giới, Phật tử này phạm khinh cấu tội. Đây là nói người thọ Phạm Võng Bồ tát giới rồi cũng phải trong 6 ngày trai của mỗi tháng và ba tháng trường trai của mỗi năm đều chẳng được có những hành vi sát sinh, trộm cướp, dâm dục, ăn phi thời. Bằng không thì giống như người thọ Bát quan giới trai, thành tội phạm giới. Điều này ở trong Kinh Phạm Võng Giới gọi là Bất kính hảo thời giới, tuy chẳng phạm giới song cũng chẳng phải là việc tốt. Trong Bát giới, nếu như phạm Bất kính hảo thời giới thành phạm giới, đây là chỗ bất đồng với ngũ giới.

Đồng thời, giới “không dâm” của Bát giới còn có yêu cầu tiến lên một tầng nữa, như trong Kinh PhậtThuyết Trai nói: Một ngày một đêm gìn giữ tâm như Chân Nhân (Như Lai), không có ý dâm, chẳng nhớ nghĩ đến việc phòng thất (ân ái), tu trì phạm hạnh, chẳng làm tà dục, tâm không tham sắc, như giới thanh tịnh, nhất tâm tu tập”. Điều trọng yếu nhất ở đây là phải giống như Phật, tuy chỉ một ngày một đêm cũng được hy vọng giữ phạm hạnh thanh tịnh như vị Tỳ kheo trăm tuổi, thân chẳng phạm dâm hạnh, miệng chẳng nói lời dâm, tâm chẳng khởi ý dâm. Trong một ngày một đêm này hoàn toàn phải tự mong sống được với thân tâm ly dục xuất thế. Hễ khởi một niệm dâm dục hiện tiền, hoặc giả nhớ lại cảnh dâm quá khứ, hoặc giả tưởng tượng lạc thú dâm dục vị lai đều kể là trai chẳng thanh tịnh. Điều này so với “Bất kính hảo thời giới” của Bồ tát giới lại nghiêm khắc hơn nhiều. Nhưng Bồ tát phải trì lục trai, cho nên trong Ưu bà tắc Giới Kinh có quy định trì lục trai giới.

Bây giờ bắt đầu trì giới thứ 6, chúng ta phân ra từng điều để nghiên cứu:

Điều thứ 6: Không đeo tràng hoa thơm, không xoa dầu thơm, không ca múa biểu diễn các bộ môn và cố đến xem nghe.

Bát quan giới trai đặt nặng ở chỗ dạy người xuất ly thế gian, gieo trồng chánh nhân xuất thế, vì thế từ trên sự tướng, chúng ta thấy nó thuộc pháp môn Tiểu thừa, tự cầu giải thoát sinh tử (nhưng nên không khinh thị Tiểu thừa, vì nếu không có hạnh Tiểu thừa làm nền tảng, hạnh Đại thừa không làm sao thực hiện). Tự mình không tự chủ được đối với sinh tử, mà nói:”Ta chẳng vào địa ngục, ai vào địa ngục?”. Những người nói như vậy đồng phạm tội đọa địa ngục, chớ chẳng phải thừa nguyện cứu địa ngục. Phải biết, người có năng lực tự chủ mạnh mẽ mới có được phạm vi hóa độ sâu rộng. Cho nên cũng không nên nói: “Vì tiếp dẫn chúng sinh, Bồ tát Nhất sinh Bổ xứ cũng dùng tràng hoa anh lạc để làm trang nghiêm”. Phải biết, tiếp dẫn chúng sinh là một chuyện, cầu liễu sinh tử lại là một chuyện.

Đeo vòng hoa là vòng trang sức làm đẹp ở Ấn Độ, dùng hoa thơm kết thành mão hoa, xỏ thành vòng hoa, dây hoa, hoặc dùng vàng bạc châu báu kết dính lại, đội lên đầu, đeo trước ngực, mang trên vai cho đến đeo lòng thòng trên thân hoặc trên hoặc dưới. Như ngày nay nói dây chuyền, vòng đeo cổ, bông tai, kẹp tóc, đồ trang điểm trên nón, trâm cài tóc, vòng đeo tay, cà rá, hột xoàn, nhẫn… của người nữ; đồng hồ đeo tay, nhẫn vàng, vật trang sức đeo trên cổ của người nam, đều đồng một tính chất với vòng hoa thơm. Vì thế, Nam truyền Tiểu thừa, Tỳ kheo và Sa di không đeo đồng hồ tay nguyên nhân là do đây. Hiện nay, các nơi theo Phật giáo Đại thừa, Tỳ kheo đi ra nước ngoài được đón tiếp và được quàng vòng hoa theo thể thức Hạ Uy Di lên cổ, đây là việc không phù hợp với người xuất gia. Theo nghĩa rộng, “không đeo tràng hoa thơm” ở đây bao quát cả nghĩa không mặc y phục hoa lệ cao quý và màu sắc tươi đẹp, điều này cần phải chú ý. Người xuất gia mặc cà sa (y hoại sắc) là việc của suốt đời. Người tại gia trong 6 ngày Trai trì Bát quan giới trai cũng nên mặc y phục mộc mạc. Vào thời Đức Phật, có một bà quyền uy có tiền tài địa vị lớn lao tên là Tỳ Xá Khư Mẫu. Có một lần bà đi bái kiến Đức Phật, đi đến gần cửa Tịnh xá Kỳ Viên, bà mới nhớ ra những đồ trang sức trên thân đều là vòng hoa anh lạc chiếu sáng ngời.Bà biết rằng đi bái kiến Đức Phật không nên như thế, nhưng trở về nhà cởi đồ trang sức cũng không tiện, bà liền tùy tiện cởi vòng hoa anh lạc bỏ dưới gốc cây trong tịnh xá, mộc mạc không trang sức đi bái kiến Đức Phật. Do đây đủ thấy đệ tử vì cung kính Đức Phật, nên chẳng dám trang sức xinh đẹp đến bái kiến Ngài. Chúng ta vì liễu thoát sinh tử mà thọ Bát quan giới trai, không nên trang sức đẹp đẽ vậy.

Dùng dầu thơm xoa thân vốn cũng là tập tục ở Ấn Độ. Xứ Ấn Độ thuộc miền nhiệt đới, da cần phải luôn luôn trơn ướt, vì thế người có tiền bất luận là nam hay nữ đều có thói quen xoa dầu. Cho nên xoa dầu cũng là làm cho thanh khiết. Tỳ kheo và Tỳ kheo ni vốn không được phép xoa dầu, nhưng khi bệnh Phật cũng cho xoa dầu, điều này thường thấy ở trong luật, cho nên biết dùng dầu xoa thân là việc bình thường. Nhưng người thế tục, hơn nữa là người có tiền đều dùng dầu có chất trơn thượng đẳng. Người đã sống cuộc đời xuất gia chẳng nên dùng chất thơm (hương liệu) xoa thân. Ngày nay trên thị trường có bán nước hoa, xà bông thơm, phấn thơm, son thơm, sáp thơm, dầu thơm, ở ngay ngày thọ Bát quan giới trai tất cả những thứ đó chẳng nên sử dụng (nếu như Tỳ kheo, Tỳ kheo ni dùng chất thơm xoa thân, ấy là hiện tượng trì giới không thanh tịnh) Hai điểm kể trên người nam so với người nữ dễ trì hơn. Tâm lý thích đẹp của người nữ là do bẩm sinh, nhưng chẳng nghe nói:”Người nữ trang điểm cho đẹp là vì muốn cho người nam yêu mình”. Người nữ làm đẹp dung mạo của mình là vì cầu sự ái mộ và quan tâm của người nam, trong đó có ý khêu gợi dẫn dụ dâm dục bên trong, vì thế Đức Phật dạy hàng đệ tử tại gia trong ngày thọ Bát quan giới trai phải buông bỏ toàn bộ những thứ ấy. Nếu nói vì lý do giao tế và thù tạc mà không bỏ được, thì ông cứ lựa ngày không có giao tế và thù tạc mà thọ Bát quan giới trai, chớ không nên thọ rồi lại phạm, bởi công đức thọ giới đã lớn, mà tội phạm giới còn lớn hơn.

Vì thế người tại gia ở nước Thái Lan gọi 6 ngày trai là ngày “Phật nhật thọ bát quan giới trai”. Một ngày một đêm ấy họ chẳng về nhà, ban đêm quấn y ngủ ở bốn phía Phật điện (xem Thái Tăng An Cư Ký của Pháp sư Tịnh Hải).

Đối với sự vận dụng chất thơm (hương liệu), trong luật cũng chỉ dạy bôi ở trong Phật điện, bôi ở trong Tăng phòng, hoặc vì trong phòng có mùi hôi thúi cũng có thể xông đốt các loại hương thơm. Như bệnh mắt, bệnh ghẻ, thầy thuốc ra toa bảo phải dùng chất thơm làm thuốc và nếu chẳng dùng chất thơm thì không trị lành bệnh được thì mới có thể dùng. Ngày này gần như rất ít dùng chất thơm thoa ghẻ, cho nên cũng không cần thiết khai giới này.

Ca múa và biểu diễn các bộ môn nghệ thuật, nói theo pháp thế gian là vui chơi, con người đối với sự vui chơi không thể thiếu được. Loài người từ thời Thượng cổ đã có ca hát và nhảy múa giản đơn. Vì sự vui chơi là một thứ sản vật làm quân bình sinh hoạt của loài người, cho nên từ xưa đến nay các dân tộc trên thế giới đều coi trọng sự vui chơi. Nhưng phạm vi của sự vui chơi rất rộng, có thiện và bất thiện. Vì thế, xã hội hiện nay cần đề xướng sự vui chơi chính đáng mà hạn chế sự vui chơi không chính đáng. Sự vui chơi có ích cho thân tâm con người là chính, là thiện; có hại cho thân tâm con người là tà, là ác. Cho nên cổ Thánh tiên Hiền ở Trung Quốc phải chế lễ làm nhạc :”Lễ là dưỡng vậy”. Mục đích của lễ là để bồi dưỡng tánh trung chính, hòa bình cho quốc dân, là vì phát dương nhân tính, đề cao nhân cách mà thiết lập. ”Nhạc là vui vậy, vui thì an, an ắt lâu dài”. Mục đích của nhạc là để hỗ trợ đào luyện tính hòa bình an lạc cho quốc dân, là vì trên dưới hòa kính, lớn nhỏ hòa thuận, làng xóm hòa thân nên thiết lập. Thật ra hai môn lễ nhạc dùng xen lẫn nhau mới có thể sinh ra hiệu quả kính thuận, hòa lạc. Có nhạc có lễ thì tuy nhạc mà không đi vào dâm lọan. Có lễ có nhạc thì tuy lễ mà không kẹt vào cứng nhắc. Nhân đây, giá trị của sự vui chơi có thể đạt thành mục đích cải thiện dân tộc. Như thế, tại sao Phật giáo chúng ta lại dạy người “không ca múa và biểu diễn các bộ môn nghệ thuật”?

Lý do là vì hướng về xuất thế. Đã hướng về xuất thế thì không còn tâm tình gì để hưởng thụ sự vui chơi của thế gian. Thái độ của người xuất thế không để cho tâm thuận với thế tục hoành hành, bằng không thì cũng chẳng thành thái độ của người xuất thế. Đã cầu xuất thế, không nên lại đem lý do rộng độ chúng sinh ra để tùy thuận thế tục. Nếu chưa chứng nhập Thánh quả, Thánh vị, chỉ khóac lác nói tùy thuận thế tục rộng độ chúng sinh thì ông sẽ bị thế tục cuốn trôi. Trôi xuôi theo dòng thế tục đó là sự thật, còn việc rộng độ chúng sinh quyết chắc là khó làm đến. Vì thế trong Du già Bồ tát giới, Bồ tát vì độ chúng sinh có thể khai mở 7 chi tội, tuy phạm giới mà vẫn có công đức, song văn có quy định rõ: “Bồ tát xuất gia vì hộ trì Thanh văn khiến cho lời răng dạy của Phật không bị hoại diệt”. Luận Nhiếp Đại Thừa nói: “Bồ tát Địa thượng, (từ Sơ địa trở lên) vì độ chúng sinh có thể khai thập ác, tuy phạm thập ác nhưng vẫn nhiều công đức”. Trong Căn Bản Tạp Sự quyển 38 nói: “Đức Phật vì muốn độ nhạc thần Càn thác bà Vương Thiện Ái, Ngài cũng đi lên Trời tấu đàn không hầu lưu ly ngàn dây”. Bát quan giới trai đã là giới xuất thế (bản chất giống như giới xuất gia). Chúng ta đã chẳng phải là Thánh vị Bồ tát Địa thượng, vì cầu giải thoát sinh tử, thì ngày trì trai không ca múa và biểu diễn các bộ môn nghệ thuật, không hưởng thú vui thanh sắc, ai nói là không nên?

Đương nhiên, Đức Phật cũng không ngăn cấm sự ca múa và biểu diễn các môn nghệ thuật của đệ tử tại gia. Vì cúng dường Tam bảo, người thế tục có thể ca múa để phụng hiến, điều này ở trong Kinh điển Đại thừa, Tiểu thừa đều có ghi chép. Chỉ lấy sự tán dương công đức Tam bảo làm điều kiện tiên quyết bằng không thì chẳng được diễn tấu trước Tam bảo. Người thời này Phật hóa điện ảnh, Phật hóa ca khúc, Phật hóa hý kịch để hoằng dương Phật pháp, tuy chẳng trái với Phật chế, nhưng người xuất gia quyết không nên tham dự diễn xuất. Nếu trong tự viện, do người thế tục trình diễn ca múa thuộc về tán dương công đức Tam bảo và lúc trình diễn dành riêng cho người xuất gia xem thì Đức Phật cho xem. Nếu đến nơi rạp để xem ca múa và biểu diễn các bộ môn nghệ thuật, đức Phật tuyệt đối ngăn cấm. Các lý do như sau:

1. Sự ca múa ở rạp hát tốt xấu không đồng, người lấy sự vui chơi làm thương nghiệp, vì giá vé vào cửa mà diễn xuất theo thị hiếu tình ái thấp hèn là điều rất bình thường.

2. ÔÛ rạp hát người đến xem gồm có nam nữ lẫn lộn đủ hạng người.

3. Sinh hoạt của người xuất gia phải lấy nhiếp tâm nhàn tịnh làm chức nghiệp và chí nguyện phải lấy thiền định, tụng kinh, thính pháp làm việc chính yếu.

4. Người xuất gia phục sức hình dạng khác với người thế tục dễ bị người thế tục chú ý, chê bai.

Với bốn lý do này, người tu hành có nên đi vào rạp hát không? Người thọ Bát quan giới trai có thể không quan hệ đến điểm thứ tư song rất mật thiết quan hệ với ba điểm trước. Nhưng tôi xem thấy Pháp sư Tịnh Hải nói về sinh hoạt của các thầy Tỳ kheo nước Thái Lan, họ có thể xem truyền hình, có thể nghe ca hát trong máy thâu âm. Căn cứ vào Phật chế, truyền hình cho họ xem phải có quan hệ đến tiết mục giáo hóa của Phật giáo, họ nghe ca hát trong máy thâu âm, cũng phải là ca hát để tán tụng Tam bảo. Nước Thái thật tình như thế nào? Tôi chẳng được biết.

Liên quan đến nội dung của “Ca múa và biểu diễn các bộ môn nghệ thuật”, giới khinh cấu thứ 33 của PhạmVõng Bồ tát Giới nói “Chẳng được đi xem hát, nghe nhạc, chơi cờ, đánh bạc, đá cầu, đá bóng v.v…cho đến bói xủ”.

Đại sư Ngẫu Ích trong Sa Di Thập Giới Oai Nghi Lục Yếu chú thích rằng:”Xướng khúc ngâm thơ gọi là ca, tay chân nhảy múa gọi là vũ. Thổi tiêu, đàn cầm, chơi cờ, đánh bạc, nghề thuốc, nghề bói, xem sao, bắn tên, đua ngựa, đánh kiếm đều gọi là xướng kỵ (biểu diễn các bộ môn nghệ thuật)”.

Từ đó có thể rõ nội dung của không ca múa và biểu diễn các bộ môn nghệ thuật là bao quát, tất cả ca múa và biểu diễn các bộ môn nghệ thuật chẳng cố đến xem nghe là nói chỉ cần không có ý đi xem, đi nghe; nếu như ca múa và biểu diễn các bộ môn nghệ thuật đi ngang qua trước mắt thì không phạm giới. Nhưng chẳng được nhân vì ngẫu nhiên ca múa và biểu diễn các bộ môn nghệ thuật đi ngang qua trước mắt lại dừng chân xem nghe hoặc đi theo xem nghe. Ở đây phải chú ý là cũng không được đi xem cảnh náo nhiệt ở đầu đường hoặc trong hẻm.

Điều thứ 7: Không được ngồi nằm trên giường lớn cao rộng.

Chữ giường (sàng) dùng trong luật, người Trung Quốc có thể không hiểu rõ. Vì giường của người Trung Quốc là chuyên dùng để nằm ngủ, còn ở Tây Vực (Ấn Độ) nghĩa của chữ giường rất rộng, dùng để ngồi cũng gọi là giường. Giường có lớn, nhỏ, cao, thấp, bất đồng, có cái cao lớn đến nỗi phải nhờ người khiêng, có cái thấp nhỏ chỉ cầm dùng một tay cũng dời đi chỗ khác được. Do đó, giường có thể hai người cho đến vài người dùng ngồi nằm, có giường chỉ có ngồi mà không nằm được. Cho nên chữ sàng (giường) và chữ tòa trong kinh Phật thường dùng chung, như nói thân làm sàng tòa khắp đại thiên thế giới. Trong kinh thường nói Đức Phật “trải tòa ngồi” nhưng cũng có chỗ nói “trải tòa nằm” như trong Tỳ Nại Da quyển 4: “Bây giờ Đức Thế Tôn xếp làm tư cái y Bích ưu đa tăng (y thất điều) trải trên giường (tòa), dùng y Tăng già lê (y cửu) gối đầu, nằm nghiêng bên hông phải trên tòa sư tử, hai chân duỗi thẳng chồng lên nhau”. Lại như “tòa sàng đại điển” của Đạt Lai Lạt ma và Ban Thiền Lạt ma ở Tây Tạng thật ra cũng là “thăng tòa đại điển”, gọi là “kim sàng” cũng tức là bảo tòa.

Sau khi rõ được nghĩa chữ sàng, chúng ta có thể giải thích là “giường lớn cao rộng”. Đại sư Ngẫu Ích trong Thập Giới Oai Nghi Lục Yếu chú thích rằng: “Giường chân cao 6 thước 4 tấc (tàu), lúc ngồi chân phải chấm đất, quá lượng này gọi là cao. Chỉ có thể cho thân nghiêng qua nghiêng lại, nếu quá lượng này gọi là rộng. Đã cao lại rộng gọi là lớn”.

Đầy là căn cứ điều 84 của Pháp Đơn Tuỳ trong Tứ Phần Tỳ kheo giới mà ra.

Chỉ có hưởng thụ vật chất đạm bạc mới có thể đề cao lãnh vực tinh thần. Chỉ có sinh hoạt vật chất giản đơn mới có thể dũng mãnh tinh tấn nơi đạo nghiệp. Đã hướng về cảnh giới xuất thế, tự nên buông bỏ sự tham đắm của cảm quan. Vật dụng nuôi thân càng tốt đẹp, chúng ta càng bị nó chi phối, thậm chí còn tha thiết yêu thích giữ gìn nó hơn đạo tâm của mình. Vật dụng nuôi thân càng cao quý, tâm chúng ta càng vì nó mà sinh ra kiêu căn ngã mạn. Một khi tâm kiêu căn ngã mạn xuất hiện, đạo tâm chạy mất không còn tung tích. Vì thế, Ngài Quốc sư Ngộ Đạt đời Đường, nhân thọ toà báu trầm hương, một niệm tâm danh lợi nổi dậy mà phải chịu quả báo ghẻ mặt người.

Lại nói, trên giường chạm trổ sơn vẽ, màn trướng lụa là, gối thêu, mền gấm… đều kể là cao quý. Nều lại thêm giường rộng rãi cao lớn, thử hỏi thứ đó đối với người tu hành có thích hợp không? Một người ngủ trên chiếc giường vừa đẹp vừa lớn như thế thì có những phản ứng tâm lý nào, cũng có thể tự suy nghĩ biết.

Người tại gia ngày thọ Bát quan giới trai, nam nữ vợ chồng phải ngủ riêng giường, riêng phòng. Nếu trong nhà chỉ có cái giường đôi to lớn, không có giường nhỏ cho một người nằm, phải sắm cái giường nhỏ một người nằm để chuẩn bị cho 6 ngày trai.

Năm chúng xuất gia đối với điều này còn có quy định chặt chẽ hơn, ở đây không nêu ra.

Điều 8: Không ăn phi thời.

Đoạn trước đã nói một điều quá giữa ngọ không ăn rất quan trọng trong Bát quan giới trai và cũng là điều chủ yếu. Thọ Bát quan giới trai mà chẳng trì “không ăn phi thời” thì chẳng thể vì người thế tục làm Bát giới A xà lê (sư). Người chẳng suốt đời trì “không ăn phi thời” thì không được làm Bát giới A xà lê truyền Bát quan giới trai cho người thế tục, và cũng chẳng được làm Hoà thượng Sa di giới cho đến Hoà thượng Tỳ kheo giới. Sa di chẳng trì “không ăn phi thời” chẳng được thọ Tỳ kheo giới, đây là điều rất nghiêm chính.

Ở Ấn Độ vào thời đức Phật tại thế, ngoại đạo Bà la môn đều trì “không ăn phi thời”.

Xá Lợi Phất vấn, Đức Phật nói các Bà la môn không ăn phi thời, ngoại đạo Phạm Chí cũng không tà thực. Sau giữa ngọ không ăn, thân tâm đều được nhẹ nhàng sảng khoái, tạp tưởng vọng niệm cũng được giảm bớt.

Không ăn phi thời là nói qua sau giữa ngày, trừ uống nước ra, không được ăn vật gì nữa. Người thế tục không quen sau giữa ngày không ăn, đến chiều tối bị đói khó chịu mà thêm phiền não, thậm chí thành ra bệnh đau bao tử. Về điểm này tôi xin khuyên: Nếu vạn bất đắc dĩ, bạn có thể ăn đường cho đỡ đói, có thể uống nước trái cây, nhưng trước tiên phải lóng trong hoặc lược cho sạch cặn, không được ăn cái của trái cây. Nếu bạn chịu đựng nổi, một tháng chỉ có sáu ngày, vì sao chẳng dũng cảm chịu đựng một phen! Như nói dinh dưởng chẳng đủ, ấy là quá lo xa, quân nhân Trung Quốc lúc ở Đại Lục mỗi ngày chỉ ăn hai bữa, cũng chưa thấy ai chết đói. Nói đến tình hình và lý do của vấn đề này một cách rõ ràng kỹ lưỡng, tôi có viết một thiên “Quy chế ăn uống của Phật giáo” trong quyển Phật giáo Chế Độ và Sinh hoạt (từ trang 106-150) độc giả có thể tham khảo.

...................................

 

 

 

Chương 2. Ngày Lục Trai Và Giới Trai Thanh Tịnh

 

I. NGÀY LỤC TRAI LÀ GÌ?

Đoạn trước đã nói, các ngày mùng 8, 14, 15, 23 và 2 ngày cuối tháng âm lịch là ngày lục trai. Trong 6 ngày này, người thế tục nên thọ trì Bát quan giới trai.

Không ăn phi thời là điều Phật giáo và ngoại đạo cùng thực hành, ngày lục trai cũng là điều Phật giáo và ngoại đạo cùng thủ trì. Ở đây chúng ta cần phải hiểu rõ Phật pháp và ngoại đạo trong nhiều quan niệm về pháp nhân thiên có thể tương đồng. Ngoại đạo tuy không sâu rộng bằng Phật pháp, nhưng nhận thức của ngoại đạo trong pháp nhân thiên có nhiều điểm Phật giáo có thể thừa nhận. Chỉ cần là đúng chánh pháp, thì dù ngoại đạo nói vẫn phải được tôn trọng. Nếu như không đúng, tuy là Phật tử nói cũng không thể tin. Đây là chỗ vĩ đại của Phật giáo.

Ngày lục trai, Phạn ngữ gọi là Bô sa tha (Posadha), cùng với Bố tát của Phật giáo (mỗi nửa tháng Bố tát thuyết giới) đồng một nghĩa là trưởng tịnh, nghĩa là trưởng dưỡng thiện pháp, thanh tịnh phạm hạnh. Kỳ thật, Tỳ kheo nửa tháng Bố tát thuyết giới cùng với 6 ngày trai có quan hệ rất sâu xa, như TátBà Đa Bộ Tỳ Ni Ma Đắc Lặc Già quyển 6: “Các ngoại đạo ở thành Vương Xá ngày mùng 8, 14, 15, tập họp một chỗ tụng Kinh được nhiều lợi dưỡng, quyến thuộc thêm đông. Bình Sa Vương tin Phật pháp Tăng đi đến chỗ Phật… Phật nói cho các Tỳ kheo ngày mùng 8, 14, 15, tập họp một chỗ tụng kinh thuyết pháp”. (Ấn Độ đương thời đem một tháng chia làm 2 tháng gọi là bạch nguyệt và hắc nguyệt, mỗi tháng chỉ có 15 ngày từ 1 đến 15, không có 16 đến 30). Đến việc Bố tát, nguyên nhân cũng vì “các ngoại đạo Phạm chí ở thành Vương Xá mỗi tháng 3 lần tập họp, những người quen biết quây quần cúng dường thức ăn uống. Phật khuyên Bình Sa Vương đặt pháp chế, có Tỳ kheo thuyết pháp cho bạch y, bạch y thí thực cho Tỳ kheo, nguyên mỗi tháng 2 lần, dần dần tăng lên 6 ngày trai, 8 ngày trai (xem Phật học Đại Từ điển, trang 862 của Đinh Phúc Bảo) cho đến tăng lên 10 ngày trai.

Đủ thấy việc nửa tháng Tỳ kheo Bố tát 1 lần và nửa tháng 3 lần thọ bát của Bát giới đồng phát xuất từ một nguyên nhân.

Vậy vì sao phải chọn 6 ngày này làm ngày trai?

Kinh Đại Bát Nhã quyển 14: “Sáu ngày trai trong tháng là mùng 8, 14, 15, 23, 29, 30, chư thiên hội họp”. Kinh Tứ Thiên Vương ghi: “Ngày trai chư Thiên xem xét người thiện ác: Tu Di Thiên Vương tức là đệ nhị thiên, Thiên đế tên Thích Đề Hoàn Nhân phước đức vòi vọi, Điển chủ tứ thiên, Tứ thiên Thần vương, tức là Nhân Tứ Trấn Vương mỗi người quản một phương, thường thường mỗi tháng vào ngày mùng 8 sai sứ giả xuống đi khắp thiên hạ dò xét đế vương, thần dân, long quy, các loài côn trùng, tâm nghĩ miệng nói thân làm thiện ác. Ngày 14, sai Thái tử xuống; ngày 15, Tứ Vương xuống; ngày 23, Sứ giả xuống; ngày 29, Thái tử lại xuống; ngày 30, Tứ vương tự xuống”.

Luận Đại Trí Độ quyển 13, hỏi: “Vì sao ngày lục trai phải nên thọ giới, tu phước đức?”

Đáp: “Những ngày ấy ác quỷ theo người muốn đoạt mạng người, tật bệnh hung suy khiên người không an, cho nên từ kiếp sơ, Thánh nhân dạy người trì trai tu phước để tránh hung suy”.

Về nguyên do của 6 ngày trai có nhiều truyền thuyết, trong các bộ kinh phần nhiều nói giống nhau, Luận Đại Trí Độ nêu ra rõ ràng nhất; nếu thích, bạn có thể tham duyệt Đại Chánh Tạng tập 25 trang 60.

Luận Tỳ Bà Sa quyển 41: “Thường thường vào ngày 14, hoặc ngày 15 của bạch nguyệt, hắc nguyệt mỗi tháng, Tam thập tam thiên tập họp ở Thiện Pháp đường đánh giá thế gian thiện ác nhiều ít. Thấy người làm thiện ủng hộ, thấy người ác làm thì cùng nhau ghét bỏ”.

Chúng ta không cần nêu ra thêm nữa, thật ra mục đích ta trì giới trai chẳng phải sợ thiên thần đến dò xét thiện ác, chẳng phải sợ bệnh tật hung suy, cũng chẳng sợ thiên thần ghét bỏ, mà là vì gieo trồng cái nhân xuất thế. Nhưng trong mỗi tháng đã có 6 ngày này là trọng yếu hơn các ngày khác, vì thế Đức Phật cũng chọn 6 ngày này làm ngày trai của Bát quan trai giới. Tuyệt chẳng phải nói chỉ có 6 ngày này mới có thể làm ngày trai. Và cũng chẳng phải nói: chỉ có 6 ngày trai này phải nên trì giới trai, các ngày khác chẳng nên làm ngày giới trai.

Nhân vì thọ trì giới trai, mỗi ngày thọ trì, mỗi ngày đều có công đức. Sáu ngày trai chỉ trì một ngày cũng có công đức một ngày. Nếu chẳng trì giới trai, lại tạo ác nghiệp, bình thường làm ác còn phải chịu khổ báo, huống chi 6 ngày trai làm ác, cố nhiên đắc tội. Đức Phật cũng dùng 6 ngày như ngoại đạo Ấn Độ, nhưng lại khuyên đệ tử tại gia thọ trì giới trai. Đây cũng là một thứ phương tiện khéo léo.

II. THẾ NÀO LÀ GIỚI TRAI THANH TỊNH?

Bát quan trai giới chỉ có 8 điều, song muốn thọ trì thanh tịnh thật cũng chẳng phải dễ. Thân chẳng làm ác: Không sát sinh, không trộm cướp, không dâm dục, không đeo tràng hoa thơm, không xoa dầu thơm, không ca múa và biểu diễn các môn nghệ thuật cũng không cố đến xem nghe, không nằm giường lớn cao rộng. Miệng chẳng làm ác: Không vọng ngữ, không uống rượu, không ăn phi thời. Những điều này chỉ cần quyết tâm làm thì cũng có thể làm được. Đến như muốn cho ý không nghĩ ác mới rất là khó. Rất khó khống chế vọng niệm cuồn cuộn nổi dậy bất duyệt, tâm chí lơi lỏng một chút không tập trung, vọng niệm liền thừa kẽ hở xen vào. Trong vọng niệm có thiện, có ác, có vô ký; thiện thì không hại, vô ký cũng không tổn bao nhiêu, chỉ có ác niệm như niệm sát sinh, niệm trộm cướp, niệm dâm dục, niệm vọng ngữ, niệm uống rượu, cho đến niệm ăn phi thời, chỉ cần một niệm khởi, bất luận quá khứ, niệm vị lai đều là trai không thanh tịnh, chỉ vì chưa phát ra hai nghiệp thân miệng nên chưa phải là phá giới.

Nếu có người chuẩn bị ngày mai thọ trì Bát quan trai giới cho rằng ngày mai chẳng thể làm các việc sát sinh, trộm cướp, dâm dục cho đến chẳng thể ăn phi thời, nên hôm nay cố ý phóng túng một phen. Người như thế, ngày mai tuy có thể thọ trì giới trai thanh tịnh cũng không kể là thanh tịnh. Hoặc có người hôm nay thọ trì Bát quan trai giới thanh tịnh lại có ý ngày mai làm các việc sát sinh, trộm cướp, dâm dục cho đến chuẩn bị ăn phi thời, cũng không kể là thanh tịnh. Người trì giới trai quý ở tâm là niệm xuất ly thế gian, quý ở sự buông bỏ ràng buộc của ngũ dục. Nếu tâm không thanh tịnh, trai sẽ không thanh tịnh, đâu có thể ôm tâm tham đắm ngũ dục thọ trì giới trai!

Do đó, Phật ở trong kinh Ưu bà Tắc giới quyển 5 có nói: “ Nếu muốn thọ trai, trước hết phải dạy ngăn các điều ác mới được thành tựu. Nếu trước chẳng ngăn điều ác mà thọ trai thì không gọi là đắc trai”. Đủ thấy trước khi thọ trai, chẳng những phải chuẩn bị thân tâm thanh tịnh, lại còn phải chính miệng mình nói với người khác để cho người khác cũng biết mình thọ trì giới trai.

Làm thế nào để được giới trai thanh tịnh?

Đại sư Ngẫu Ích ở cuối quyển Ưu bà tắc Ngũ Giới Tướng Kinh Tiên Yếu nói: “Ngày trai giới không được đánh chúng sinh, không được thân miệng làm việc mất oai nghi, không được khởi các phiền não tham dục, sân nhuế, tà ác, lại cần phải tu lục niệm. Bốn điều cấm kể trên nếu phạm, tuy không phá trai nhưng trai giới cũng không thanh tịnh”.

Sáu ngày trai thọ Bát quan giới trai vì đề phòng vọng niệm sinh tử, vì tăng công đức giới trai, phương pháp tốt nhất là chuyên trì lục niệm.

1. Niệm Phật: Phật là đấng Đạo sư từ bi, pháp môn niệm Phật trừ được ngu si. Niệm thật tướng Phật trừ được ác ý. Niệm tướng hảo Phật trừ được thói quen giận hờn.

2. Niệm Pháp: Pháp là mẹ của chư Phật, pháp của Phật nói ra vô lượng vô biên, dùng 37 đạo phẩm có thể tuần tự tiến lên hòan thành sự tu chứng, vì thế nên niệm 37 đạo phẩm, nội dung như sau:

- Tứ niệm xứ: Quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã.

- Tứ chánh cần: Ác chưa sinh không cho sinh, ác đã sinh phải diệt, thiện chưa sinh phải làm cho sinh, thiện đã sinh phải làm cho tăng trưởng.

- Tứ như ý túc: Dục (hâm mộ pháp tu trì), niệm (nhất tâm chánh trụ niệm sở quán), tinh tấn (tu tập không biếng nhác), huệ (tư duy tâm không tán loạn).

- Ngũ căn: Tín (tin vào chánh đạo), tinh tấn (siêng năng cầu đạo không dừng), niệm (nhất tâm quán tưởng), định (nhất tâm tịch định), huệ (tánh bên trong tự chiếu soi)

- Ngũ lực: Do ngũ căn mà phát sinh ra 5 thứ lực lượng phá trừ năm chướng: Tín lực phá từ phiền não, tấn lực phá trừ biếng nhác, niệm lực phá trừ tà tưởng, định lực phá trừ vọng tưởng, huệ lực phá trừ tất cả tà ngoại.

- Thất giác chi: Niệm (suy niệm tu các đạo pháp để cho định huệ quân bình), trạch pháp (dùng trí giản trạch sự chân ngụy của pháp), tinh tấn (dùng tâm dõng mãnh lìa tà hạnh, hành chánh pháp), hỷ (tâm được pháp thiện liền sinh hoan hỷ), khinh an (đoạn trừ sự thô trọng của thân tâm, thân tâm nhẹ nhàng thơ thới), định (tâm trụ một cảnh), hành xả (xả bỏ các sai lầm, xả bỏ tất cả pháp).

- Bát chánh đạo: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh định, chánh niệm, chánh mạng.

3. Niệm tăng: Căn cứ vào Kinh Phật Thuyết Trai, Tăng là phước điền của Trời, người, ở nay nói niệm Tăng là niệm Chân thật Tăng hoặc Thắng nghĩa Tăng là Thánh Tăng tứ song bát bối chứng đắc được tứ quả và Tứ hướng quả. Nhưng đối với Tỳ kheo phàm phu Tăng, cũng phải cung kính cúng dường. Ở đây nói niệm là niệm công đức của Tăng. Vì thế, muốn niệm Thắng nghĩa chân thật Tăng, ngày thường y chỉ học tập vẫn phải lấy thế tục Tăng trì giới biết hổ thẹn làm chủ. Nhân vì Phạn ngữ: Tăng già (Sangha) nghĩa là Hòa hợp chúng, hoặc dịch là chúng. Ở Ấn Độ, 4 người trở lên gọi là chúng; vì thế, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni từ 4 người trở lên có thể gọi là Tăng già. Người thế tục, từ 4 người trở lên cũng có thể gọi là Tăng già, do đó đệ tử Phật nói chung phân ra làm 7 chúng cho đến 9 chúng. Vì thế Kinh A Hàm có đem “quy y Tăng” dịch thành “quy y chúng”. Nhân đây có người cho rằng: Đã gọi là quy y chúng đâu cần quyết định quy y người xuất gia? Thật ra, đây là một lập luận sai lầm, mang tội rất lớn. Vì Đức Phật chưa từng nói quy y Tăng tức là quy y chúng tại gia, mà lúc nào cũng nói: “Quy y Tỳ kheo Tăng”. Khi mới thành đạo, Phật chưa độ Tỳ kheo Tăng, nhưng khi độ đệ tử tại gia, Ngài cũng dạy cho họ quy y Tỳ kheo Tăng vị lai. Đây chính là điều chứng minh quan trọng hơn hết. Vì có nơi hiểu lầm định nghĩa của chữ Tăng, nên ở đây tôi nói thêm cho rõ.

4. Niệm thiên: trên cõi trời sống lâu an lạc, nhân vì thọ trì công đức ấy cảm được thọ báo sinh lên đệ lục thiên của Dục giới, nếu nhất tâm niệm, được quả báo sinh lên trời sống lâu an lạc.

5. Niệm giới: Trì giới ba nghiệp được thanh tịnh. Bát quan trai tuy chỉ 8 điều, nhưng phạm vi của sức giới có thể lớn đến vô cùng vô cực, trì một giới sát là có thể ở trên một phần tất cả chúng sinh được công đức không sát sinh; ngoài ra, các giới khác cũng có thể theo đây đoán biết. Cứu cánh của Bát giới cũng gồm đủ Định cộng giới (do Định khai phát nên gọi là Thiền giới, do định lực tự nhiên không phạm gọi là Định cộng giới), Đạo cộng giới (chứng được thánh quả lên thánh vị, tuy không thọ giới, trì giới cũng có thể cùng giới tương ưng là luôn luôn thanh tịnh, cho nên gọi là đạo cộng giới). Nhân vì ngũ giới là nền tảng của tất cả giới cho nên công đức lớn nhỏ tùy theo sự phát tâm mà được, nếu dùng tâm Bồ tát trì ngũ giới; ngũ giới tức thành đại thừa giới, còn nếu cầu phước báo nhân thiên mà trì Bồ tát giới thì Bồ tát giới cũng đồng như ngũ giới.

6. Niệm thí: Cứu giúp tất cả người nghèo. Nghèo nàn có 3 thứ: Nghèo nàn về của cải, nghèo nàn về phương pháp tu phước tu đạo, nghèo nàn về kiến thức làm người xuất thế. Vì thế, Bố thí cũng có 3 thứ: Bố thí tài vật, bố thí pháp, bố thí vô úy. Tài vật làm cho sinh hoạt vật chất chúng sinh cải thiện. Phật pháp làm cho sinh hoạt tinh thần của chúng sinh sung mãn. Vô úy làm cho chúng sinh kê vai gánh vác đạo nghĩa, chọn thiện mà theo, dõng mãnh tiến tới. Căn cứ vào sự giải thích của Luận Trì Độ: “Người trì giới không phạm tài vật của người còn đem tài vật của mình thí cho người khác gọi là Tài thí; hay vì người khác thuyết pháp khiến họ khai ngộ đắc đạo gọi là Pháp thí; tất cả chúng sinh đều có tâm sợ chết, người trì giới không có tâm sát hại, hay khiến cho chúng sinh không sợ hãi gọi là Vô úy thí”.

Đoạn văn trên giới thiệu nhiều danh tướng khô khan vô vị, đối với người mới vào cửa Phật mà nói, thì thật là khó khăn. Chỉ đem nội dung của lục niệm phân biệt rành rẽ đã chẳng phải dễ, lại thêm cần phải nhất tâm nhất ý niệm pháp lục niệm này lại càng khó hơn. Nhưng đây là một thứ quy định của pháp môn tu Bát quan trai giới, nếu có thể làm đúng như pháp thì tốt lắm. Nếu như dụng công phu lục niệm không nổi thì nên dùng phương pháp trì danh niệm thánh hiệu Phật trong kinh Tiểu thừa, tức là niệm công đức tướng hảo của Phật; hay là niệm Phật trong tông Tịnh độ, đó là chuyên tâm trì niệm thánh hiệu Phật A Di Đà. Nếu có phương tiện khác, tỷ như trì chú, tụng kinh, lễ sám cũng được. Như trong Kinh Địa Tạng Bồ tát Bổn Nguyện nói: “Nếu chúng sinh đời vị lại, mỗi tháng vào ngày mùng 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, 30, trong 10 ngày trai này đối trước tượng Phật, Bồ tát, chư Hiền Thánh đọc Kinh Địa Tạng này một lần thì Đông, Tây, Nam, Bắc trong trăm do tuần không có tai nạn, ngay trong gia đình hoặc lớn hoặc nhỏ, hiện tại, vị lai trong trăm ngàn năm hằng lìa đường ác!”. Chúng ta thấy 10 ngày trai là ngoài 6 ngày trai ra còn thêm 4 ngày mùng 1, 18, 24, 28. Mười ngày này nên đọc tụng Kinh Địa Tạng thì 6 ngày trai cũng nên đọc tụng Kinh Địa Tạng.

Trong Kinh Dược Sư cũng nói: “Thọ bát phần trai giới lại phải nên niệm công đức bổn nguyện của đức Như lai (Dược Sư), đọc tụng kinh (Dược Sư) này, tư duy nghĩa lý, diễn nói khai thị”. Do đây chứng minh ngày thọ trì bát giới có thể tụng kinh. Nguyên do của 6 ngày trai là Bình Sa Vương thỉnh Phật thuyết pháp trong 6 ngày này để thấy trưng dẫn ở trên.

.......................................

 

 

 

Chương 3. Điều Kiện Và Cách Thọ Bát Quan Giới Trai

 

I.CHỈ CÓ LOÀI NGƯỜI MỚI ĐƯỢC THỌ GIỚI

Trong Tát Bát Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa quyển 1 nói: “Phàm đắc giới Ba la đề mộc xoa, trong ngũ đạo chỉ có nhân đạo (người) đắc”. Bát giới cũng là giới Ba la đề mộc xoa, cho nên trừ loài người ra, chúng sinh loài khác cho đến thiên nhân cũng không đắc giới. Tuy nhiều chỗ trong kinh có nói: Long (loài rồng) thọ trai pháp với thiện tâm công đức, nhưng không đắc giới. Lại nói: “Trong bốn loài người, một là nam, hai là nữ, ba là huỳnh môn, bốn là người hai căn, chỉ có nam, nữ đắc giới”. Đó là muốn nói ở trong loài người, chỉ có nữ, nam sinh lý bình thường mới có thể đắc giới.

II. NGƯỜI PHẠM TỘI NGŨ NGHỊCH, PHÁ TỊNH GIỚI KHÔNG ĐẮC GIỚI

Trong Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa quyển 1 nói: “Trong nam nữ như vậy, nếu người giết cha, giết mẹ, giết A la hán, làm thân Phật chảy máu, phá chuyển pháp luân Tăng (5 điều trên là ngũ nghịch), ô Tỳ kheo ni, tặc trụ (người phi pháp mà trụ trong Tăng), việt tế nhân (người xuất gia vì sinh hoạt chứ chẳng phải vì Phật pháp), đoạn thiện căn, những người này thường không đắc giới”.

Trong Kinh Bồ tát Ngũ Giới Tướng nói: “Người phạm đến người tịnh giới của dệ tử Phật, tuy không có tội phạm giới, nhưng sau đó vĩnh viễn không được thọ ngũ giới cho đến xuất gia thọ Cụ túc giới”. Người tịnh giới là chỉ cho người chủ trì giới không dâm. Nếu dụ dỗ cưỡng bức người kiên trì giới không dâm cùng hành dâm gọi là phá tịnh giới người. Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Thức xoa ma, Sa di, Sa đi ni, Ưu bà tắc và Ưu bà di trong các ngày thọ trì Bát quan giới trai đều chẳng nên làm cho các vị ấy phá giới. Bằng không, chính mình vĩnh viễn không có tư cách thọ bất cứ Phật giới nào. Nhưng thông thường đều lấy phá tịnh giới nữ ni làm trọng yếu, nhưng phá tịnh giới của người nam cũng không phải là tầm thường. Trong Thập Tụng Luật quyển 40 có ghi một đoạn như vầy: Lúc Phật ở nước Xá Vệ, có một người Bà la môn sinh một người con gái diện mạo xinh đẹp tên là Diệu Quang, về sau cô nói với vị Sa môn Bà la môn khất thực ở nhà cô rằng: “Hãy cùng tôi hành dâm”. Do vì tội của lời nói này mà khi chết cô bị đọa ác đạo ở phương Bắc của nước kia sinh làm dâm long (con rồng nhiều dâm dục). Đây mới chỉ dụ dỗ Sa môn Bà la môn cùng nàng hành dâm, chứ chưa thật sự phá tịnh giới người khác; mà còn bị đọa làm dâm long.

III. THỜI HẠN THỌ TRÌ

Về thời hạn thọ trì Bát quan trai, trong các Kinh Luật nói không giống nhau. Trong Tát Bà Đa Tỳ Ny Tỳ Bà Sa quyển 1 nói: “Hỏi: Pháp thọ Bát giới được 2 ngày, 3 ngày, thọ cho đến 10 ngày, thọ một lần một được không?. Đáp: Phật vốn chế định một ngày một đêm không được quá hạn. Nếu có sức muốn thọ nữa thì một ngày qua rồi lần lượt thọ lại, như vậy tùy sức nhiều ít chẳng kể số ngày. Lại hỏi: Nếu chỉ muốn thọ trai pháp ban ngày không thọ ban đêm có đắc bát trai không? Nếu chỉ muốn thọ ban đêm mà không thọ ban ngày, có đắc bát trai không? Đáp: Không đắc. Vì Phật vốn cho pháp một ngày một đêm đã có hạn định không thể trái vậy”. Đây là nói Bát giới chỉ có một ngày một đêm, không được mấy ngày liên tiếp thọ, cũng không được chỉ ban ngày thọ mà ban đêm không thọ, hoặc chỉ thọ ban đêm mà không thọ ban ngày. Tuy ở trong Căn Bản Bộ Bì Cách Sự có ghi chuyện Ức Nhĩ ở đồng nội thấy quả báo của người chỉ thọ trai ban ngày và người chỉ thọ trai ban đêm, nhưng trong Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa quyển 1 lại giải thích rằng: “Có người nói đây là vì Ngài Ca Chiên Diên muốn độ Ức Nhĩ cho nên biến hóa ra để cảm ngộ tâm Ức Nhĩ chứ chẳng phải là sự thật”.

Nhưng trong Luật Thành Thật nói: “Ngũ giới, Bát giới tùy theo ngày tháng dài ngắn hoặc một năm, một tháng cho đến nửa ngày, nửa đêm, muốn thọ thêm hay giảm bớt đều được”.

Trong Kinh Dược Sư cũng nói: “Có người hay thọ trì bát phần trai giới hoặc 1 năm, hoặc 3 tháng thọ trì học xứ”. Lại nói: “Vì cúng dường Dược Sư Như Lai trước tiên phải tạo lập hình tượng Đức Dược Sư Như Lai, phải 7 ngày 7 đêm thọ Bát phần trai giới”. Đây là nói Bát phần trai giới không nhất định thọ trì vào 6 ngày trai, thời hạn thọ trì có thể hoặc 1 năm, hoặc 3 tháng, hoặc 7 ngày 7 đêm liên tục thọ trì.

Nhưng chiếu theo văn tự thọ giới của Bát giới mà nói, thì lấy một ngày một đêm làm tiêu chuẩn bình thường là chánh là chủ. Nếu như hoàn cảnh không cho phép, hoặc giả phát tâm liên tục thọ trì, ở gần lại không có người có thể làm Thọ giới sư và để khỏi phải nhọc nhằn qua lại mỗi ngày, cũng có thể thọ trì trong thời hạn 1 năm, 1 tháng, mười ngày, vài ngày.

IV. PHƯƠNG THỨC CẦU THỌ GIỚI

Trong Kinh Ưu bà tắc giới quyển 5 nói: “Bát giới này không được hai người cùng thọ một lượt”. Bát giới chỉ được từng người một hướng về Giới sư cầu thọ, nguyên nhân của điều đó căn cứ vào sự giải thích của Luật sư Linh Chi: “Không được nhiều người, đông người lộn xộn tâm chẳng chuyên nhất. Luận rộng về quy giới, thọ riêng từng người là tốt nhất, vì tâm không duyên cảnh khác, pháp không bị lạm dụng”. Đại sư Hoằng Nhất cũng nói: “Ngày nay đông người thọ, đối với lý tuy thông, nhưng rốt cuộc thành ra bất lợi”.

Trong Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa quyển 1 nói: “Pháp thọ trai phải từ người khác thọ, vậy thọ từ người nào? – Từ bên 5 chúng xuất gia mà thọ”. Kinh Ưu bá tắc giới quyển 5 cũng nói: “chẳng được ở bên tượng Phật thọ, cần phải từ người khác thọ”. Đủ thấy Bát giới phải ở trước chúng xuất gia: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Thức xoa ma na, Sa di, Sa di ni cầu thọ. Nhưng trong Luật Thành Thật và Luận Trí Độ cho phép tự thệ thọ. Luận Thành Thật nói: “Nếu khi không có người, chỉ cần tâm nghĩ miệng nói tôi thọ Bát giới cũng được thành thọ”. Nhưng tự thệ thọ cũng phải có điều kiện, như Phạm Võng Bồ tát Giới có thể tự thệ thọ, nhưng cần phải: “ Nếu trong vòng ngàn dặm không có Thọ giới sư, được ở trước hình tượng Phật, Bồ tát thọ giới, nhưng phải thấy hảo tướng (Phật đến rờ đầu, thấy ánh sáng, thấy hoa, các thứ tướng lạ). Nếu như trường hợp có 5 chúng xuất gia truyền Bát giới, đương nhiên phải hướng về 5 chúng xuất gia cầu thọ Bát giới mới tốt.

Thọ Bát giới có thể đến tự viện cầu thọ, cũng có thể thỉnh Giới sư đến tại nhà truyền. Đại sư Ngẫu Ích nói: “Ưu bà tắc thọ trai đến chùa là tiện, Ưu bà di thọ tại nhà là tiện”. Người nam đi tự viện, người nữ ở tại nhà, song đây không có quy định bắt buộc, chỉ nhìn tình cảnh thực tế tùy duyên cầu thọ bát giới là tốt.

V. CHUẨN BỊ NGÀY TRAI

Bát giới tuy lấy 6 ngày trai làm lệ thường, song gặp ngày vía Phật, Bồ tát, ngày sinh của mình, ngày chết của cha mẹ, hoặc vì ngày lục thân quyến thuộc làm công đức, và tất cả những ngày kỷ niệm, nhớ ân, tu phước, cầu nguyện, đều nên phát tâm thọ trì Bát giới. Nho gia mỗi khi gặp ngày lễ tế tự lớn cũng có công phu chuẩn bị “Trai giới tắm gội”, như Lễ ký nói: “Trai giới để cáo quỷ thần”. Mạnh Tử cũng nói: “Trai giới tắm gội mới có thể tế tự Thượng đế”. Yù nghĩa trai giới của Nho gia có thể tương thông với Phật giáo, song nội dung lại bất đồng.

Trước khi thọ trì Bát giới, ba nghiệp thân miệng ý phải thanh tịnh, cho nên trong Kinh Tăng Nhất A Hàm nói: “Nếu thọ Bát giới, trước tiên phải sám hối”. Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa quyển 1 nói: “Nếu người muốn thọ Bát giới mà trước đó phóng túng nữ sắc hoặc đàn hát, hoặc tham ăn uống, các thứ vui đùa, những việc phóng dật như thế tận tâm làm, rồi sau thọ trai, không luận trung tiền (trước ngọ), trung hậu (sau ngọ), đều chẳng đắc giới. Nếu không có tâm thọ trai, làm các việc phóng dật, sau gặp thiện tri thức liền thọ trai. Nếu vốn không có tâm thọ trai, không luận trung tiền, trung hậu, tất cả đều đắc giới. Nếu muốn thọ trai, vì sự chướng nạn ngăn trở nên chẳng được tự tại, khi chướng nạn giải quyết xong liền thọ trai, không luận trung tiền, trung hậu, tất cả đều đắc giới”.

Văn trên nói: “Trung tiền, trung hậu”, ở đây cần phải giải thích: Thời gian cầu thọ Bát quan giới trai, phải lấy trì từ sáng sớm của ngày trai làm quy tắc chính, ít nhất cũng phải trước ngọ. Ngày nay ở nước Thái Lan đều thọ từ buổi sáng. Thường thường, gặp ngày Phật nhật và ngày Chúa nhật, từ 7, 8 giờ sáng đã có rất nhiều nam nữ Phật giáo tay cầm hoa tươi, nhang đèn và đồ dùng đơn giản của mỗi người, cùng nhau tới chùa dự khóa lễ buổi sáng và nghe chư Tăng thuyết pháp… trước khi thuyết pháp, chư Tăng vì tín đồ thuyết tam quy ngũ giới. Trong tín đồ có người thọ Bát quan trai giới, hoặc thọ ngũ giới và bát giới cùng một lúc. Nhưng lúc chư Tăng nói đến giới thứ 6, 7, 8, người thọ ngũ giới chẳng cần đáp “trì” (Thái Tăng An Cư Ký của Pháp sư Tịnh Hải). Nhưng nếu gặp nghịch duyên làm trở ngại, chỉ cần có tâm niệm thọ trai chậm trễ đến giữa ngọ về sau thọ giới trai cũng được. Nhưng trong Luận Câu Xá cũng nói: “Nếu trước tác ý vào ngày trai thọ bát giới, tuy ăn xong rồi thọ giới trai cũng được”.

VI. NẠP THỌ GIỚI THỂ NHƯ THẾ NÀO?

Những điều quan hệ đến nội dung và yêu cầu của Bát quan giới trai giới thiệu đến đây đại khái cũng đã đầy đủ, bây giờ xin giới thiệu đến phương pháp nạp thọ giới thể.

Tam quy, ngũ giới, bát giới, thuyết giới, cách thọ giới đều rất giản đơn, chỉ cần có sự chuẩn bị kỹ càng trước khi thọ giới, thì lúc thọ rất dễ dàng. Nhưng trong các tự viện lớn ở Trung Quốc đều hay biểu hiện hình thức long trọng bên ngoài. Vì thế, Đại sư Độc Thể cũng có biên soạn một thiên “Thọ Bát Giới Chánh Phạm” nói về cách truyền thọ bát giới nghi thức phân ra làm 8 tiết, cương mục như sau:

1. Trải tòa thỉnh sư: Do Dẫn lễ sư hướng dẫn nghinh thỉnh Hòa thượng thăng tòa.

2. Khai đạo: Khai thị sơ lược về ý nghĩa của Bát giới và phương pháp trì trai.

3. Thỉnh Thánh: Nghinh thỉnh Phật, Pháp Tăng và Hộ pháp Long Thiên.

4. Sám hối: Sám trừ các ác nghiệp quá khứ, ăn năn dứt ác nghiệp vị lai.

5. Thọ Quy: Dùng tam quy nạp thọ giới thể của Bát giới.

6. Tuyên giới tướng: Truyền nói điều văn giới tướng của Bát giới.

7. Phát nguyện: Phát nguyện đem công đức này nhiếp thủ tất cả chúng sinh khiến thành vô thường Bồ đề, đồng tại Long Hoa tam hội của Đức Di Lặc liễu thoát sinh tử, giáo hóa hữu tình, đồng sinh cực lạc.

8. Khuyến chúc hồi hướng: Nói công đức thọ trì Bát giới và khuyên đem công đức này hồi hướng tất cả chúng sinh.

“Thọ Bát Giới Chánh Phạm” này tuy rất hay, nếu làm theo thì biểu hiện hình thức bên ngoài rất long trọng trang nghiêm. Nhưng phải mất thời gian dài, lúc thọ giới, ngoài Giới sư ra, còn cần phải có Dẫn lễ sư. Nếu Giới sư chẳng phải là vị Trụ trì phương trượng thì sự thực hành theo nghi thức này sẽ không phải dễ. Do đó, Đại sư Hoằng Nhất căn cứ vào Kinh Phật Thuyết Bát Chủng Trưởng Dưỡng Công Đức biên soạn một thiên “Thọ Bát Quan Giới Trai Pháp”. Nay tôi xin ghi lại như sau:

Quy mạng tất cả Phật, duy nguyện tất cả Phật, Bồ tát chúng nhiếp thọ con:

Con nay quy mạng Thắng Bồ đề

Tối thượng thanh tịnh Phật, Pháp, Chúng

Con phát tâm Bồ đề rộng lớn

Mình người lợi ích đều thành tựu

Sám trừ tất cả nghiệp bất thiện

Tùy hỷ vô biên công đức uẩn.

Trước tiên sẽ không ăn quá ngọ, sau tu pháp bát chủng công đức (nói 3 lần).

Con tên là… duy nguyện A xà lê nhiếp thọ con. Từ giờ này con phát tâm tịnh tín cho đến ngồi Bồ đề tràng thành Đẳng chánh giác, thệ quy y Phật nhị túc tôn, thệ quy y Pháp ly dục thắng tôn, thệ quy y Tăng đều phục thắng tôn. Tam bảo như thế là chỗ quy hướng của con (nói 3 lần).

Con là… tịnh tín Ưu bà tắc (Thọ Bát giới chính thuộc về hai chúng tại gia, cũng gồm cả chúng xuất gia nhưng trong Kinh Dược Sư nói, văn này chỉ nói căn cứ người tại gia cho nên xưng là Ưu bà tắc. Nếu người xuất gia nên tùy nghi xưng) duy nguyện A xà lê nghĩ nhớ hộ niệm, con từ giờ này hôm nay phát khởi tịnh tâm, từ đêm nay đến sáng sớm hôm sau lúc mặt trời mọc, trong khoảng thời gian này phụng trì Bát giới: 1. Không sát sinh, 2. Không trộm cướp, 3. Không phi phạm hạnh, 4. Không vọng ngữ, 5. Không uống rượu, 6. Không ăn phi thời, 7. Không đeo hoa để trang nghiêm thân và ca múa v.v… 8. Không ngồi nằm giường lớn cao rộng. Con này lìa bỏ các việc như vậy, thệ nguyện chẳng xả bỏ thanh tịnh cấm giới bát chủng công đức (nói 3 lần).

Con trì giới hạnh trang nghiêm tâm mình khiến tâm vui vẻ rộng tu tất cả thắng hạnh tương ưng cầu thành Phật quả cứu cánh viên mãn (nói 3 lần), lại đọc bài kệ tụng:

Con phát tâm tối thắng không hai

Vì các chúng sinh làm bạn hữu

Khéo hành hạnh Bồ đề thù thắng

Thành Phật lợi ích khắp thế gian

Nguyện con nương nhờ nghiệp thiện này

Đời này không lâu thành Chánh giác

Thuyết pháp lợi ích cho thế gian

Giải thoát chúng sinh khổ ba cõi.

Đoạn văn trên là nguyên văn của Đại sư Hoằng Nhất. Còn về chủ trương các chúng xuất gia cũng trì Bát giới rất cần phải nói thêm. Căn cứ vào yêu cầu của luật chế, Bát giới là 8 điều trước của Sa di thập giới, chỉ cần thọ Sa di giới thì suốt đời phải trì Bát giới; đến Tỳ kheo giới chẳng cần nói nữa vì đã bao quát cả Bát giới. Vì thế, các chúng xuất gia tự nhiên là phải suốt đời thọ trì Bát giới. Nhưng, Đại sư Hoằng Nhất sở dĩ nói các chúng xuất gia cũng nên thọ Bát giới là chính, vì các chúng xuất gia hiện nay ít người y theo luật tuân hành. Đa số người xuất gia nói riêng Tỳ kheo giới hoặc Sa di giới cũng chưa trì được Bát giới. Nay xin ghi lại “Thọ Bát Quan Giới Trai Pháp” trong Tại Gia Luật Yếu Quảng Tập quyển 4 để cùng tham khảo như sau:

Trước tiên phải dạy pháp thọ tam quy:

Con là… quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng một ngày một đêm là tịnh hạnh Ưu bà tắc (hoặc Ưu bà di), Như lai chí chân Đẳng chánh giác là Thế Tôn của con ( nói 3 lần).

Con là… quy y Phật rồi, quy y Pháp rồi, quy y Tăng rồi, một ngày một đêm là tịnh hạnh Ưu bà tắc (Ưu bà di), Như lai chí chân Đẳng chánh giác là Thế Tôn của con (nói 3 lần).

Kế đến phải dạy thọ pháp giới trai: Con là…hoặc thân nghiệp bất thiện, hoặc khẩu nghiệp bất thiện, hoặc ý nghiệp bất thiện vì tham dục, sân nhuế, ngu si. Hoặc đời này đời trước có tội như thế, hôm nay thành tâm sám hối, thân nghiệp thanh tịnh, khẩu nghiệp thanh tịnh, ý nghiệp thanh tịnh thọ hành Bát giới:

- Như chư Phật suốt đời không sát sinh, con một ngày một đêm không sát sinh.

- Như chư Phật suốt đời không trộm cướp, con một ngày một đêm không trộm cướp.

- Như chư Phật suốt đời không dâm dục, còn một ngày một đêm không dâm dục.

- Nhưng chư Phật suốt đời không vọng ngữ, con một ngày một đêm không vọng ngữ.

- Như chư Phật suốt đời không uống rượu, con một ngày một đêm không uống rượu.

- Như chư Phật suốt đời không đeo tràng hoa, không xoa hương vào thân, con một ngày một đêm không đeo tràng hoa, không xoa hương vào thân.

- Như chư Phật suốt đời không ca múa và biểu diễn các bộ môn nghệ thuật, không cố đến xem nghe, con một ngày một đêm không ca múa và biểu diễn các bộ môn nghệ thuật, không cố đến nghe xem.

- Như chư Phật suốt đời không ngồi nằm giường lớn cao rộng, con một ngày một đêm không ngồi nằm giường lớn cao rộng.

- Như chư Phật suốt đời không ăn phi thời, con một ngày một đêm không ăn phi thời.

- Nay con đem công đức thọ giới Bát quan trai này bốn ân đều báo, ba cõi cùng nhờ, cùng các chúng sinh đồng sinh Tịnh độ (Nếu như mỗi người tự có nguyện cầu, đều có thể thêm vào phần hồi hướng).

Một thiên “Thọ Bát Quan Trai Pháp” này so với nghi thức do Đại sư Hoằng Nhất y theo Kinh Phật Thuyết BátChủng Trưởng Dưỡng Công Đức thì giản đơn và thiết yếu hơn, trong 15 phút có thể làm xong thọ Bát giới. Ở đây đem Bát giới và một trai phân biệt làm 9 điều gọi là “giới trai pháp” mà không gọi là “trai giới pháp”. Kỳ thật, dùng hai chữ “trai giới” là chịu ảnh hưởng của “trai giới để cáo quỷ thần” và “trai giới tắm gội của Nho gia. Y theo thứ tự của Bát giới trai phải gọi là “giới trai” chứ chẳng phải “trai giới”. Vì thế, bút giả hành văn trong thiên này đều dùng “giới trai”, còn khi trưng dẫn văn của sách khác y theo nguyên văn sao lục, nên có khi ghi là “trai giới”. Hoặc giả có người cho rằng: Bát giới lấy chữ “trai” làm thể, vì thế gọi là trai giới, điều đó cũng hợp lý.

Ở chỗ này nói: “Như chư Phật” thọ trì giới trai; trong AHàm, Kinh Trì Trai nói chiếu theo “A la ha” thọ trì.

...............................

 

 

 

Chương 4. Sau Khi Thọ Bát Quan Giới Trai Xong

 

I. XẢ GIỚI

Sự thọ trì của Bát quan giới trai chỉ một ngày một đêm, cho nên cũng không nói xả giới. Đã thọ rồi, chẳng nên xả giới cũng không cầu xả giới. Nhưng vì phòng trường hợp đặc biệt, trong Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa quyển 1 cũng có cho xả giới: “Nếu thọ trai rồi muốn xả trai, phải do 5 chúng mà xả trai; nếu lúc muốn ăn, đến nói với một người, trai liền xả”. Cũng nói: “Như vì nạn duyên, hoặc vì phiền não, hoặc vì lúc đói khó chịu, chỉ cần nói với một người hiểu sự việc, hiểu lời nói, được kể là xả giới”. Trong Nghĩa Sao cũng nói: “Nếu có nhiễm tâm sắp muốn phá giới, thà xả giới rồi làm, về sau sám hối cũng được”. Ngũ giới, thập giới cũng đồng như vậy. Đây là nói nếu chẳng thể thủ trì nên xả giới, về sau muốn thọ, sám hối sẽ được thọ lại.

II. XƯNG HÔ

Đoạn trước đã nói, Bát giới là Đốn lập giới ở ngoài giới của thất chúng. Người thọ tam quy ngũ giới rồi có thể thọ thêm Bát quan giới trai một ngày một đêm, người chưa thọ tam quy ngũ giới cũng có thể thọ Bát quan giới trai. Nhưng ở đây có một vấn đề trên sự xưng hô. Người thọ Tam quy ngũ giới rồi xưng là Ưu bà tắc (cận sự nữ) thọ thêm Bát giới cho đến Bồ tát giới vẫn xưng là Ưu bà tắc và Ưu bà di.

Nếu như người chẳng thọ tam quy ngũ giới, ngày trai chỉ thọ bát giới, thì xưng là gì?

Trong Bát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa nói xưng là “người trung gian”; cũng nói: Ngày thọ trì giới trai xưng là Ưu bà tắc, Ưu bà di; ngày thường chẳng được gọi là Ưu bà tắc, Ưu bà di.

Lại nói chỗ nói nam nữ tại gia thọ Bát giới xưng là cận sự nam, cận sự nữ, đây là nói: Bát quan giới trai là chánh nhân xuất thế, còn cứu cánh xuất thế (chẳng phải cứu cánh của Bồ tát) là quả A-la-hán. Gọi “cận trụ” là chỉ cảnh địa sở trụ tiếp cận A la hán, hoặc giả chỉ cho trụ thân cận A la hán do vì tâm người ấy thích xuất ly thế gian. Cho nên “cận trụ” so với “cận sự” ưu thắng hơn một tầng. Như trong Luận Bà Sa nói: “Người thọ Bát giới gọi là cận trụ, nghĩa là gần A la hán trụ”. Trên thực tế cũng nên như thế, thông thường người thọ Bát giới phần nhiều là người trước đã thọ Tam quy ngũ giới, người không thọ Tam quy ngũ giới mà chỉ thọ Bát quan giới trai rất là ít có.

III. CÔNG ĐỨC

Thọ trì Bát quan giới trai tuy chỉ là một ngày một đêm, nhưng nếu thọ trì được thanh tịnh, công đức ấy lớn lao không thể hạn lượng. Trong Kinh Phật Thuyết Trai nói: “Phụng trì Bát giới tập ngũ tư niệm (tức lục niệm) làm Phật pháp trai và thiện công đức, diệt ác sinh thiện, về sau sinh lên cõi trời, rốt cùng đắc Nê hoàn”. Thọ trì bát giới tuy sinh lên cõi trời, nhưng chắc chắn sẽ đắc nê hoàn (Niết bàn) và được liễu sinh thoát tử, đây là công đức quả báo rất lớn.

Trong Kinh Ưu bà tắc giới quyển 5 nói: “Người thọ Bát giới trừ tội ngũ nghịch, tất cả tội khác thảy đều tiêu diệt”. Lại nói: “Nếu có thể thanh tịnh như thế thọ trì Bát giới trai, người này sẽ được vô lượng quả báo, đến vô thượng lạc”. Lại nói: “Thời Phật Di Lặc xuất thế, trăm năm thọ trai không bằng ở đời ta (Thích Tôn) một ngày một đêm thọ trai”. Lại nói: “Thiện nam tử! Bát quan giới trai này tức là anh lạc (ngọc báu) trang nghiêm Vô thượng Bồ đề”.

Trong Kinh A Hàm nói: “Nếu trong sáu ngày trai phụng trì Bát giới một ngày một đêm phước không kể xiết”.

Trong Kinh Niết bàn ghi chuyện tên đồ tể Quảng Ngạch mỗi ngày giết vô lượng dê, về sau gặp Ngài Xá Lợi Phất liền phát tâm thọ Bát giới, qua một ngày một đêm mạng chung được sinh lên cõi trời.

Trong Kinh Bồ Tát Xử Thai nói: “Bát quan giới trai là mẹ của Chư Phật”.

IV. PHỔ KHUYẾN THỌ TRÌ BÁT QUAN GIỚI TRAI

Thọ trì Bát quan giới trai đã có công đức như thế, sự yêu cầu của Bát quan giới trai tuy nghiêm, nhưng cũng chưa chắc làm đúng như pháp. Mục đích học Phật của chúng ta tuyệt đại đa số là hy vọng xuất ly sinh tử, nhưng đối với đệ tử tại gia nếu chẳng gieo trồng cái nhân xuất thế thì khó được cái quả xuất thế. Đồng thời người thọ ngũ giới rồi mỗi tháng sáu ngày trai thì thêm Bát giới không phải là một việc quá khó. Trong mỗi tháng chỉ có 6 ngày không ăn cơm chiều (quá giữa ngọ không ăn), ấy là việc dễ làm. Trong Bát giới trai, chủ yếu là tại điều trai giới không ăn phi thời này. Điều này giữ rồi thì 8 giới kia giữ theo ngũ giới cũng không khó bao nhiêu. Vì thế, đệ tử tại gia ở thời đại Đại Lục (trước năm 1949) thọ Bát giới rất nhiều; tại các quốc gia Nam truyền, thọ Bát giới lại càng phổ biến. Ngày nay, ở Đài Loan và hải ngoại, phong trào thọ Bát giới rất thấp, giả sự có những người thọ, cũng không đúng như pháp. Do đó, tôi rất hy vọng đề xướng phong trào thọ Bát giới, cho nên không ngại rườm rà mà viết ra bài văn này, chỉ ước mong người đọc bài văn này rồi hưởng ứng và đôn đốc thành một phong trào thọ trì Bát giới. Đồng thời, Đại sư Hoằng Nhất cũng nói: “Nếu e mỗi tháng 6 ngày quá nhiều, có thể bớt xuống còn 1 ngày, 2 ngày cũng được” (Luật Học Yếu Lược).

Đoạn này cũng như trong Kinh Ưu bà tắc giới nói: “Trai như thế đã là dễ làm mà có thể được vô lượng công đức. Nếu có điều dễ làm mà không làm, thì bị coi là phóng dật”.

 

 

HT. Thánh Nghiêm

Thích Nữ Tuệ Đăng dịch Nhà Xuất Bản Thời Đại

 

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới Thiệu:

    Chùa Sắc Tứ Khải Đoan là ngôi chùa đầu tiên của tổ chức Phật Giáo có mặt tại Đaklak, được xây dựng vào năm 1951. chùa tọa lạc trên khu đất rộng 7 mẫu 8 sào 28m2, do Đoan Huy Hòang Thái Hậu Hòang Thị Cúc hiến cúng cho Tổng Hội Phật Giáo trung phần.

Thông báo

Ảnh chùa

Số Lượng truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 25

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 23


Hôm nayHôm nay : 158

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 93447

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3911375