Trí tuệ tuy mang nhiều danh từ khác nhau nhưng tựu trung trí tuệ có nhiệm vụ tối hậu là tận diệt vô minh để chúng sinh có thể nhận chân được chân lý. Trí tuệ đóng vai trò tối quan trọng trong lý tưởng giải phóng con người ra khỏi mọi hệ lụy khổ đau. Chính Đức Phật đã chế ra nhiều pháp tu mà trong đó tam huệ học là Văn, Tư, Tu và tam vô lậu học là Giới, Định, Tuệ là những phương pháp thường được nhắc nhở và thực hành nhiếu nhất.
Nói đến Trí Tuệ, phải nói đến 3 pháp học vô lậu học: Giới Định Tuệ.
1. Giới: Giới không phải là những điều răn của vị giáo chủ đặt ra để buộc tín đồ tuân phục, mà Giới trong Phật giáo có nghĩa là dẹp bỏ những thói quen bất thiện đã tập nhiễm từ lâu và ngăn ngừa các điều ác có thể gây ra về sau. Giới cũng là sự phát triển những điều lành sẵn có và cố gắng tạo thêm các điều lành chưa phát sinh. Giới là điều kiện tiên quyết để giữ tâm không vọng động (nhơn Giới sinh Định).
2. Định: trạng thái tâm không xao động và do đó được an tịnh và thoát khỏi dục vọng để trở nên trong sáng. Một khi được an trú trong thiền định thì tâm sẽ được nhu thuần, minh mẫn, kiên cố và dũng mãnh. Đây là những điều kiện căn bản để phát sinh trí tuệ (nhơn Định phát Huệ).
3. Tuệ: Khi tâm đã được an tịnh, sáng suốt và giác tỉnh nhờ Thiền định. Bây giờ trí tuệ sẽ phát sinh và nhờ đó chúng ta có thể nhận chân được thực tướng của vạn hữu.

Khi có trí tuệ tức là có thể nhận ra được cái tự tánh thanh tịnh, bất sanh bất diệt mà chư Phật và chư Tổ đã chứng đắc (kiến tánh). Định là sức mạnh và Tuệ là chất xúc tác để mở con mắt tâm. Nếu thiếu trí tuệ thì con người chỉ có thể kinh nghiệm được những cái gì hời hợt, nông cạn, chẳng giúp ích gì mà còn là những chướng ngại nếu con người cứ mãi bám víu vào đó.
VD: Câu chuyện bà già cúng dường vị sư tu tập 3 năm với câu nói “Khô mộc ỷ hàn nham Tam niên vô lãnh noãn”.
Vị sư trong câu chuyện mặc dù trì giới thanh tịnh, tâm không khởi động niệm nhưng vẫn thiếu chất xúc tác là Trí tuệ để khai thị con mắt tâm. Con mắt tâm không mở thì suốt đời vẫn không thấy được tánh giác thanh tịnh sáng suốt triệt để của mình.
Trí tuệ chính là cứu cánh của người tu Phật, cho nên trước khi nhập diệt, Đức Phật đã dạy trong Kinh Di Giáo:
“Trí tuệ là chiếc thuyền kiên cố đưa con người thoát khỏi biển già, đau, chết. Chính nó là ngọn đèn lớn chói sáng vô minh hắc ám, là liều thuốc hay chữa hết thảy bệnh tật, là chiếc búa sắt chặt gãy cây phiền não. Vậy các ngươi phải lấy sự nghe, sự suy nghĩ, sự tu tập mà tăng ích cho trí tuệ của mình”.
Tìm hiểu về Tam Huệ:
1. Văn Huệ: là do tai nghe âm thanh, mắt thấy văn tự, kinh điển của Phật để nhận hiểu mà phát sinh trí tuệ. Trong suốt 49 năm hoằng dương Giáo Pháp của Đức Phật, có rất nhiều người đắc quả Thánh hay ngộ được chân lý khi nghe Ngài thuyết Pháp. Không những thế, ngay cả hàng Thanh Văn tức là A La Hán cũng độ được rất nhiều người vào cõi Thánh.
Ngày nọ có vị Tỳ kheo ni tên là Patacara đến rửa chân nơi một dòng suối. Đang khi bước lên bờ thì bà thấy những giọt nước từ bàn chân của bà nhỏ xuống theo dòng nước trôi đi và biến mất. Cứ như thế mà bà suy tư sự biến đổi không ngừng của hiện tượng và bổng trực nhận được lý vô thường của vũ trụ. Trong kinh điển cũng có ghi chép rất nhiều trường hợp như có một hành giả có thể nghe một tiếng chim hót, hoặc thấy một chiếc lá rơi, một ngọn đèn phựt tắt, hay nhìn những bong bóng nước vỡ tan trên mặt hồ mà chứng ngộ được chân lý.
2. Tư Huệ: là huệ do trí suy nghĩ, tìm tòi hay quán xét về những điều đã được thu nhập được bằng văn huệ.
Những gì mà chúng ta nghe, thấy và học hỏi được chỉ là kiến thức vay mượn. Muốn chuyển hóa chúng để trở thành kiến thức của chính mình thì phải suy nghĩ tường tận qua nhiều giai đoạn suy tư và phán đoán có nghĩa là chúng ta phải phân tích, tổng hợp để tìm ra thật tướng của chân lý. Vì thế Đức Phật có dạy không nên mặc nhiên chấp nhận một điều nào chỉ vì tập tục cổ truyền, vì điều ấy đã được ghi chép trong kinh điển, hay vì người thốt ra câu ấy có vẻ hiền nhân khả kính, khả ái…; mà khi nào chúng ta tự mình suy xét đắn đo để biết rằng những điều này hợp với đạo đức, những điều này đem lại an vui hạnh phúc, … thì chúng ta mới chấp nhận và hành động đúng theo như vậy.
Nhưng không phải mọi tư duy đều đem lại trí tuệ cho con người. Đức Phật dạy, có hai loại tư duy: Chánh tư duy giúp tâm thanh tịnh và sáng suốt; tà tư duy làm cho tâm ô nhiễm và lu mờ.
Vậy, muốn phát triển trí tuệ chúng ta phải tránh những tà tư duy như suy nghĩ về dục lạc, suy nghĩ về oán thù và suy nghĩ về lợi mình hại người. Trái lại, chúng ta thường nên suy tư quán chiếu về ý nghĩa sâu xa của vô ngã, vô thường, khổ não và bất tịnh của tất cả các pháp hữu vi.
Vậy, trí tuệ phát sinh do suy xét chân tướng vạn hữu được gọi là Tư Huệ.
3. Tu huệ: là do tu hành thể nghiệm và thể nhập chân lý để chứng được chân lý mà giác ngộ. Có nhiều pháp môn tu tập, nhưng Tham thiền là một phương pháp rèn luyện trí tuệ được Đức Phật khen ngợi và khích lệ nhiều nhất.
Phương pháp tu thiền định giúp con người dập tắt vô minh và ái dục. Vì thế có câu Định năng sinh Huệ.
Ví như một ly nước đục được giữ yên, khi bao nhiêu cặn bả đã lắng đọng thì nước sẽ trở nên trong suốt. Con người thì cũng thế, nếu chúng ta giữ được an trú trong thiền định thì tâm sẽ trở nên trong sạch, sáng suốt và nhờ đó trí tuệ phát sinh.
Cũng như chúng ta thích một loại trà rất nổi tiếng và học cách pha trà nầy. Nhưng chừng nào chúng ta chưa tự mình pha lấy và uống qua một lần thì cũng không thưởng thức được hương vị của món trà quý nầy.
Nói tóm lại Văn, Tư, Tu rất tương quan mật thiết với nhau, không thể bỏ qua một thứ nào mà thành tựu được. Cho nên, Đức Phật dạy:
“Văn huệ, Tư huệ, Tu huệ ba môn khuyết một không được. Nếu nghe mà không suy nghĩ thì như làm ruộng mà không gieo mạ. Nếu suy nghĩ mà không tu thì như làm ruộng mà không tát nước, làm cỏ thì không có lúa. Ba Huệ đầy đủ thì chứng quả Tam thừa”.
Vì tầm quan trọng của trí tuệ trong vai trò đưa con người giải thoát ra khỏi vòng sanh tử luân hồi và thể nhập chân lý nên chúng ta phải luôn luôn cố gắng rèn luyện trí tuệ của mình bằng cả ba phương pháp Văn, Tư và Tu.
Thích Đạo Quang
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Chùa Sắc Tứ Khải Đoan là ngôi chùa đầu tiên của tổ chức Phật Giáo có mặt tại Đaklak, được xây dựng vào năm 1951. chùa tọa lạc trên khu đất rộng 7 mẫu 8 sào 28m2, do Đoan Huy Hòang Thái Hậu Hòang Thị Cúc hiến cúng cho Tổng Hội Phật Giáo trung phần.
Đang truy cập :
88
Hôm nay :
15772
Tháng hiện tại
: 275424
Tổng lượt truy cập : 38157050