Vai trò "Trụ trì" và "Ban Hộ tự" trong sinh hoạt, hướng dẫn Phật tử tu học tại các Chùa - Niệm Phật Đường

Chủ nhật - 07/08/2011 22:18
Vai trò "Trụ trì" và "Ban Hộ tự" trong sinh hoạt, hướng dẫn Phật tử tu học tại các Chùa - Niệm Phật Đường

Vai trò "Trụ trì" và "Ban Hộ tự" trong sinh hoạt, hướng dẫn Phật tử tu học tại các Chùa - Niệm Phật Đường

1. Phần mở đầu: Hình thức tổ chức của Giáo hội hiện nay là kế thừa các hình thức tổ chức của Giáo hội tiền nhiệm, đặc biệt dựa vào mô hình từ thời đức Phật còn tại thế, cả một quá trình tồn tại và phát triển.

 

Chúng ta thử nhìn lại vai trò “Trụ trì” và “Ban hộ tự” trong sinh hoạt hướng dẫn Phật tử tại các chùa niệm Phật đường hiện nay để có một phương thức điều hành thích hợp, có hiệu quả thiết thực cho Giáo hội trên bước đường củng cố và phát triển hội nhập quốc tế.

  1. B. Phần nội dung:

I.Vấn để tổng quan: Giáo hội chúng ta là một tổ chức gồm Tăng già và cư sĩ tức là tứ chúng: Tăng, Ni, cư sĩ nam và cư sĩ nữ. Nói một cách khác là Tỳ kheo Tăng, Tỳ kheo Ni, Ưu bà tắc và Ưu bà di.

Giáo đoàn Tăng gia đầu tiên chính là 5 vị đệ tử của đức Phật được chứng quả sau khi đức Phật truyền pháp tại vường Lộc Uyển, cụ thể qua pháp Tứ diệu đế, Tam pháp ấn, Bát chánh đạo.... và hơn 3 năm sau, năm 504 trước Tây lịch, Ni chúng cũng được xuất hiện (Bikkhuni Sangha) do Mahapajapati đứng đầu.

Và đệ tử xuất gia của Phật phải giáo hóa cho chúng sanh xây dựng một xã hội an lạc, bước đầu cho họ thấy rõ giá trị ngôi Tam Bảo để họ phát tâm quy y, đồng thời trao cho họ một số giới điều cơ bản mà đức Phật đã chế. Những người đã phát tâm quy y và lãnh thọ 5 điều giới cấm trở thành những Phật tử tại gia.

Đời sống Tăng già mỗi ngày có những bước phát triển mới từ chỗ an trú nơi rừng vắng, thực hiện hành khất sĩ dần dần do hoàn cảnh thực tế đã có những hình thức định cư đơn giản “Àvasa” hoặc tương đối tiện nghi, bền vững gọi là Àrama hoặc tiến lên một bước cao hơn. Các Tinh xá có quy mô lớn cho Giáo đoàn Phật giáo Trúc LâmVeluvanàràma ở gần Vương xá Jivakàrama ở Rajagaha...

Đặc biệt có 3 tinh xá thời danh: Ty Xá Kỳ Bạt (Jivàkàràma), Tinh xá Kỳ Hoàn (Jetavanàràma) và Tinh xá Cù sư la (Ghositàràma).

Dù ở Tinh xá nhưng hạnh khất sĩ, trí túc vẫn là tinh thần tùy duyên bất biến. Chính nhờ thế mà Phật giáo lan tỏa và thấm sâu vào xã hội. Tinh thần này khi Phật giáo được truyền qua các nước tương đối được quần chúng gần gũi, tiếp nhận một cách chân thật như ở Thái Lan, Miến Điện, Lào, Đại Hàn, Nhật Bản, Trung Hoa và gần nhất là Việt Nam chúng ta.

II. Ý nghĩa và vai trò Trụ Trì

  1. Ý nghĩa Trụ Trì: An trụ ở đời mà hộ trì Phật pháp, “Nhất thiết Như Lai quang nghiêm trụ trì” ( Kinh Viên Giác).

Nhưng đáng chú ý là Trụ Trì Tam Bảo

“Nê khám tố tượng vi Phật bảo: Khám đất đắp tượng là Phật bảo. Sau khi đức Phật diệt độ dùng đất mềm đắp tượng, dùng cây trạm trổ thành tượng.... trụ ở thế gian không tuyệt dứt. Đây là Phật bảo.

Hoàng quyển xích trục vi Pháp bảo. Sách vàng bìa đỏ là Pháp bảo, tức Đại Tạng kinh ngày nay trụ ở đời không tuyệt diệt. Đây là Pháp bảo.

Thế phát nhiễm y vi Tăng bảo: Cạo tóc xuất gia mặc áo nhuộm là Tăng bảo. Có nghĩa là cạo bỏ râu tóc mặc áo nhuộm hoại sắc, tức là Tăng ở thế gian. Vì có thể truyền bá lưu thông Phật pháp ở thế gian. Đây gọi là Tăng bảo.[Tam Tạng Pháp Số trang 160, quyển I]

Theo Tự điển Phật Học Hán Việt, Hà Nội xuất bản năm 1994, trụ trì Tam bảo: một trong 6 loại Tam bảo, tức Tam bảo trụ trì ở đời lâu dài để hộ trì Phật pháp. Như tượng Phật, tranh Phật là Phật bảo trụ trì. Tam Tạng kinh điển là Pháp bảo trụ trì. Tỳ kheo Tăng cắt tóc nhuộm áo là Tăng bảo trụ trì.

Vị chủ Tăng ở một  chùa gọi là Trụ trì

Sắc Tu Thanh Quy-Trụ Trì chương: “Phật giáo vào Trung Quốc 400 năm trước khi Ngài Đạt Ma đến. Truyền lại được 8 đời đến Ngài Bách Trượng. Lúc đó chỉ biết đem đạo truyền cho nhau chưa có tên gọi trụ trì. Ngài Bách Trượng đã làm cho đạo Thiền được hưng thịnh. Trên từ Vua, quan vương công, dưới đến Nho Lão bách tính đều tìm đến hỏi đạo. Nếu trò không tôn kính ngôi thứ thì phép thầy không nghiêm. Từ đó để tỏ lòng tôn kính thầy nên gọi là Trụ trì, và tôn kính nên gọi là trưởng lão”[Từ Điển Phật Học Hán Việt trang 1675, xuất bản 1994, tập II].

  1. Vai trò trụ trì: Trụ trì có một vai trò rất lớn trong việc xây dựng Giáo hội: Trụ_Trụ pháp vương gia; Trì_Trì Như Lai tạng, tác Như Lai xứ, hành Như Lai sự; Nói cách khác người giữ gìn và phát huy chánh pháp của Như Lai, người duy trì ngôi nhà pháp vương và phát triển, được hiện diện trong mọi kiếp của cuộc đời.

Đại Sư Minh Giác: “Giáo pháp là trụ trì, trụ trì là nương người mà giữ pháp khiến cho Phật pháp mãi trụ vững không bị sụp đỗ. Này giới, định, huệ là công cụ trì pháp (giữ Pháp) còn Tăng chúng, ruộng vườn các vật dụng là tư tài để trì pháp. Tư tài là khí cụ đợi người xứng đáng để sử dụng tốt công cụ ấy. Nếu sử dụng tốt cả tư tài và công cụ thì có thể (giữ) để trụ dài lâu vậy. Xưa chức trụ trì ở Linh Sơn do Đại Ca Diếp nắm giữ, trụ trì Trúc Lâm lấy thân mình để chủ động mọi thứ nên giáo pháp mới thịnh hành. Giáo pháp của Phật còn mãi”[Sắc tu Bách Trượng Thanh quy quyển đệ tam chung-Trụ trì chương chung trang 402].

Thiền sư Bách Trường Hoài Hải chủ trương rõ hơn: “Trú trì phải cùng đại chúng chia sẻ đều nhau lau khổ; nhất nhật bất tác nhất nhật bất thực”[Chương 5 Trụ trì STBTTQ trang 162].

Công việc thường nhật của Trụ trì:

-Thuyết giảng, dạy dỗ đồ chúng.

-Chỗ dựa cho đại chúng về phương diện tâm linh.

-Niệm tụng dẫn đại chúng tụng.

-Kiểm tra đôn đốc.

-Xử phạt chúng Tăng vi phạm Thanh Quy.

-Tiếp chư Tôn túc, khách, thí chủ.

Và dưới trụ trì còn có một số bộ phận khác hỗ trợ.

Nói một cách tổng quát đối nội và đối ngoại đều do trú trì.

Đức Phật từng dạy: “ Người xuất gia một mặt thì siêng năng tu giới, định, huệ; mặt khác thì trụ trì Phật pháp nhiếp hóa chúng sanh làm lợi tha cho chúng sanh” Phật tử trụ trì khéo vượt các “hữu” nghiêm tịnh luật nghi rộng làm khuôn mẫu cho ba cõi. Trụ trì Phật pháp nhiếp hóa chúng sanh phải là nhiệm vụ thiêng liêng và tự nhiên của người xuất gia. Đó là pháp khí dược kế tục truyền thừa. Nhờ thế Phật pháp mới không tùy theo đời biến, quốc biến mà chuyển.

Do vậy, “tướng” của Tăng chúng là “lìa tục trì giới, “Đức” của Tăng chúng là “tu hành hoằng pháp”.[Luật Phật thừa tông yếu Thái Hư Đại sư, Thích Nhật Quang dịch, xuất bản năm 2001].

Người Phật tử tại gia cần phải:

-Giữ giới làm lành

-Bố thí hộ Pháp

Mục đích phát huy cho được pháp lành ở cõi người và cõi trời để tiến đến quả vị A la hán (vô sanh)

Đối với Việt Nam chúng ta, từ khi Phật giáo du nhập vào cuối thế kỷ I sau Tây lịch hoặc vào cuối thời đại Hùng Vương với hai Phật tử được biết đến Chữ Đồng Tử và Tiên Dung.

Đặt biệt qua các triều đại Đinh Lê Lý Trần, Phật giáo như là quốc đạo. “Các nhà sư đã có một vị trí đáng lưu ý trong xã hội Đại Việt và thực sự là một lực lượng tinh hoa của xã hội”. Tiêu biểu nhất là Khương Tăng Hội vị Thiền tổ Việt Nam đã sang Hoa Nam Trung Quốc để độ Tăng, dạy và dịch kinh, giáo pháp của Phật từ đây như được lịch sử Phật giáo Trung Hoa công nhận”[Bách khoa thư Hà Nội xuất bản 2010].

Chùa tháp đều được nhà vua xây dựng, trụ đá khắc kinh Phật ở Hoa Lư làm cho Kinh đô trở thành trung tâm Phật giáo của cả nước. Vua Đinh Tiên Hoàng còn phong cho Thiền sư Ngô Chân Lưu (933-1011) chức Tăng Thống đứng đầu Phật giáo cả nước.

Suốt cả chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước các ngôi chùa đều được Vua, Thiền tổ, các quan lại nhân dân kiến tạo, việc trụ trì vẫn dành cho các thiền Tăng.

-Và gần nhất, trong thời kỳ chấn hưng Phật giáo năm 1930 trở lại, Tăng mới được thỉnh vào Ban chứng minh đạo sư.[Mục V-Trị sự toàn bộ, điều thứ 8 và 9. Điều lệ và quy tắc sửa đổi do Đại hội đồng toàn kỳ 15/12/1937 và 25/12/1939]

Căn cư Quy chế Giáo hội Tăng gia toàn quốc Phật lịch 2515, năm Nhâm Thìn 1952, Mục VIII điều 4, chương II: Phải chỉnh đốn và duy nhất chùa tháp, thờ tự, nghi lễ, phẩm phục và Mục VI điều 5 “Bảo tồn các tự viện và các cơ quan hành đạo”.

Qua đó chúng ta cũng thấy được vai trò rất quan trọng của chư Tăng Trụ Trì.

3.Vai Trò Ban hộ tự

Tiền thân Ban hộ tự là đại diện Khuôn hội. Căn cứ nội quy chế và Khuôn hội của Phật giáo Việt Nam tại Trung phần (tức Hội Việt Nam Phật học), Năm 1957 Khuôn hội là cơ sở của Hội ở một xã (có thể ở một thôn) Khoản I, chương I, Phạm vi phải có ít nhất là 45 hội viên mới lập một Khuôn hội (khoản 2, chương I, đứng đầu là Khuôn trưởng.

-Căn cứ điều 22 Hiến chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, bản tu chỉnh năm 1965, đơn vị của Giáo hội là Xã, Phường...trụ sở đặt tại một ngôi chùa... có một ban đại diện gồm: Chánh Phó đại diện.... Tại các thôn, Ấp nếu có nhiều chùa có thể thành lập một đơn vị... Nhiệm kỳ 2 năm (Điều 23 HCGHPGVNTN).

-Căn cứ Nội quy Ban Tăng sự Trung Ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam ban hành tháng 3 năm 1985 và được tu chỉnh ngày 28/12/2008 chương VIII, Trụ trì và bổ nhiệm trụ trì.

-Căn cứ điểm 4 điều 43: Trường hợp không có nhân sự là Tăng hay Ni để bổ nhiệm Trụ trì do Ban đại diện Phật giáo cấp huyện triệu tập phiên hợp... theo 2 trường hợp:

a. “.....Bầu cử một Ban hộ tự” (đã phổ biến): gồm 5 thành viên, 1 trưởng ban, 1 phó ban, 2 thư ký và 1 kiểm soát.

Chức năng của Ban hộ tự là đại diện cho tín đồ Phật giáo đảm nhận vai trò quản lý, điều hành sinh hoạt tín ngưỡng tại cơ sở Tự viện theo đúng đường lối, chủ chương của GHPGVN và pháp luật nhà nước.

b. “...hoặc bầu Ban trụ trì cho đến khi bổ nhiệm được trụ trì”.

-Căn cứ điểm 5 điều 43: Những cơ sở Tự viện (niệm Phật đường) đã có trụ trì được giải quyết theo các trường hợp:

a. Không lập Ban hộ tự.

b. Nếu trước đây đã thành lập Ban hộ tự do chưa có trụ trì sau khi bổ nhiệm Trụ trì thì Ban hộ tự hết chức năng và nhiệm vụ được phân công.

c. Đối với các chùa Nam tông theo truyền thống Hệ phái thì Ban Trị sự Phật giáo Tỉnh ban hành quyết định công nhận Ban quản trị chùa.

III. Mối quan hệ hỗ tương giữa trụ trì-chùa-niệm Phật đường:

Trụ trì hiểu rộng ra là trong những trụ cột của Tam bảo trụ trì “....việc bảo vệ sự lưu xuất miên viễn của Phật pháp trong thế gian. Pháp ấy được lưu xuất nhờ sự hộ trì của Tăng bảo là chính, sự đóng góp của cư sĩ tuy quan trọng nhưng phải dựa vào Tăng bảo[Nghĩ về Tượng Pháp và Chánh Pháp-VHPG-130].

Vì có chúng sanh Như Lai mới thị hiện để hóa độ, có con người, Tăng bảo mới đem Phật pháp ra tuyên dương hoằng hóa để chuyển hóa con người lên một vị trí cao hơn. Mối quan hệ giữa người bố thí pháp và người nhận pháp hết sức hữu cơ như một hệ luận tất yếu. Nhưng như đức Phật dạy: “Bố thí pháp cao hơn mọi sự bố thí khác”[pháp thí thắng mọi thí].

Tăng là người đem pháp bố thí và Phật tử là người nhận pháp thí và muốn cả hai đều được lợi ích phải ở trong tinh thần vô ngã vị tha.

Trụ trì ở một ngôi chùa là: “Nhập Như Lai chi thất” tức là tâm đại từ bi đối với tất cả chúng sanh (đại bi).

Trụ trì là Thiền sư đang mặc áo của Như Lai “Trước Như Lai chi y”  tức tâm nhu hòa nhẫn nhục (đại hùng).

Trụ Trì thiền sư đang ngồi pháp tòa của Như Lai “tọa Như Lai chi tòa” tức thấy các pháp đều không (đại trí).

Về phía Phật tử trước hết phải có tinh thần nhận “pháp”, hộ pháp. Trước mắt có 3 việc cần làm:

Lấy thiện để độ ác

Lấy Thiền để độ dục

Lấy vô sanh để độ ba cõi sanh diệt.

Nếu mỗi người con Phật xuất gia và tại gia thấy rõ vai trò vị trí, trách nhiệm trước sự tồn vong của đạo pháp chắc chắn một số hiện tượng gập gềnh trong Giáo hội giữa trụ trì và Niệm Phật đường không trở thành những lực cản của bánh xe chuyển pháp_chùa không phải là pháo đài. Xuất gia hay tại gia hoặc Phật tử đều là Phật sẽ thành.

C. Phần Kết

Dõi theo những bước diễn tiến của đề tài đi từ vấn đề tổng quan thời đức Phật còn tại thế với tinh thần Tăng già hòa hiệp, tứ chúng đồng tu,  Bimbisara (Tần bà sa la) vị vua xứ Ma Kiệt Đà (Magadha) cúng dường đức Phật và chúng Tỳ kheo Tinh Xá Veluvana (Trúc Lâm), định hình một nếp sống định cư cho Tăng già, vua muốn cho người đến làm giám thị và giúp việc cùng thỉnh tôn ý với Phật, được sự cho phép mới thi hành và cuối cùng dành quyền cho Tăng.

Đến Việt Nam chúng ta cũng thế các vua Đinh Lê Lý Trần hậu Lê Nguyễn... vẫn với tinh thần đó. Trụ trì vẫn là một trong Tam bảo trụ trì. Cư sĩ đóng một vai trò quan trọng nhưng Thiền Tăng trụ trì giữ vai trò chủ yếu.

Gần nhất là Hội An Nam Phật Học đến GHPGVN nay đã có nhiều chuyển hóa “tùy duyên bất biến” vẫn lấy nguyên tắc “Tam bảo trụ trì” làm hạt nhân chủ đạo cho tổ chức Giáo hội.

Ý nghĩa và hạnh phúc chúng ta vẫn là những ước nguyện niềm tin

“Hạnh phúc thay Tăng già hòa hợp

Hạnh phúc thay tứ chúng đồng tu”

Chúng ta hãy phát huy ánh sáng tự giác, tạo động lực mới để cùng đi lên với xã hội, nhất là trong xứ mệnh “hộ quốc an dân”./.

 

 

 

Hòa thượng Thích Đức Thanh

Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN

Phó Trưởng Ban Trị sự Phật giáo Tỉnh Thừa Thiên Huế

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

 

Giới Thiệu:

    Chùa Sắc Tứ Khải Đoan là ngôi chùa đầu tiên của tổ chức Phật Giáo có mặt tại Đaklak, được xây dựng vào năm 1951. chùa tọa lạc trên khu đất rộng 7 mẫu 8 sào 28m2, do Đoan Huy Hòang Thái Hậu Hòang Thị Cúc hiến cúng cho Tổng Hội Phật Giáo trung phần.

Thông báo

Ảnh chùa

Số Lượng truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 20

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 19


Hôm nayHôm nay : 119

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 93408

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3911336