LỜI TƯỞNG NIỆM GIÁC LINH TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH GIÁC THANH của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Thứ tư - 25/05/2022 09:27
Trước khi cử hành lễ cung tống kim quan Trưởng lão Hòa thượng đến đài hỏa táng Vĩnh Lương, Tp. Nha Trang để Trà tỳ, chúng tôi xin thay mặt Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự, Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Đắk Lắk và Tăng Ni, Phật tử có đôi lời tưởng niệm.

LỜI TƯỞNG NIỆM GIÁC LINH

TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH GIÁC THANH

Của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch ...

Kính thưa ...

Trước khi cử hành lễ cung tống kim quan Trưởng lão Hòa thượng đến đài hỏa táng Vĩnh Lương, Tp. Nha Trang để Trà tỳ, chúng tôi xin thay mặt Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự, Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Đắk Lắk và Tăng Ni, Phật tử có đôi lời tưởng niệm.

Kính bạch Giác linh Trưởng lão Hòa thượng!

Hơn tám hai năm hiện cõi trần,

Tùy duyên Đại sĩ hiện chân thân

Hồng trần nhẹ gót trong phương tiện,

Ứng xử tùy duyên đã phỉ nguyền.

Tùy thuận đến đi theo duyên hiện,

Niết Bàn, sinh tử tánh bản nhiên

Giáo hội kính ghi công đạo hạnh

Thế gian hằng lưu bóng chân nhân.

Trưởng lão Hòa thượng sẵn có duyên lành, sớm giác ngộ lý vô thường, xả tục cầu chơn, xuất gia học đạo với Đại lão Hòa thượng Thích Giác Tánh, Tăng chủ Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam, được ban Pháp danh Giác Thanh, thực hành hạnh Khất sĩ, nối truyền Thích Ca Chánh pháp, Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam. Kể từ đó, Trưởng lão Hòa thượng với mãnh Ca sa và bình bát, cùng với chư Trưởng lão Tăng trong Giáo đoàn hành trì hạnh Du Tăng Khất sĩ khắp các tỉnh miền Trung, Tây nguyên và miền Đông, xây dựng Đạo tràng, tiếp độ Tăng chúng, nhiếp hóa chúng sanh. Một đời giữ vững chữ Tâm, trọn kiếp duy trì chữ Nhẫn. Thể nhập Chân như, lòng từ ban rãi, giải thoát trong việc làm, vô vi tự tại.

Trên bước đường hành đạo, Trưởng lão Hòa thượng đã cùng chư Tôn đức Giáo phẩm Giáo đoàn II khai mở và xây dựng nhiều ngôi Tịnh xá, làm chỗ tựa nương cho Tăng chúng và tín đồ Phật tử tu học, rèn tâm luyện trí, thực hành hạnh nguyện lợi tha, hương giới bay xa, chan hòa tình dân tộc. Đặc biệt, Trưởng lão Hòa thượng đã nỗ lực mở rộng và trùng tu Tịnh xá Ngọc Nguyên trên vùng đất cao nguyên rừng xanh bát ngát được trang nghiêm tú lệ, xứng đáng là ngôi phạm vũ huy hoàng, là cơ sở văn

hóa Phật giáo tại địa phương, góp phần xây dựng và phát triển ngôi trường đạo đức tại thế gian.

Trong tinh thần hòa hợp đoàn kết, tứ chúng đồng tu, Cố Trưởng lão Hòa thượng đã cùng các tổ chức Giáo hội, Hệ phái Phật giáo cùng nhau xây dựng thành công ngôi nhà Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong lòng dân tộc, đáp ứng nguyện vọng thống nhất lâu đời của Tăng Ni, Phật tử cả nước mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam là đỉnh cao của thời đại. Trưởng lão Hòa thượng đã tích cực tham gia nhiều công tác Phật sự của Giáo hội tại địa phương. Trên cương vị Phó Trưởng ban Trị sự, Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni, Trưởng ban Hoằng pháp Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Đắk Lắk trong nhiều nhiệm kỳ, Trưởng lão Hòa thượng đã đóng góp nhiều công đức cho Phật sự của Phật giáo tỉnh nhà. Nhất là trong công tác từ thiện, cứu trợ đồng bào bị thiên tai lũ lụt, đồng bào nghèo có hoàn cảnh khó khăn, đồng bào dân tộc các tỉnh Tây nguyên, Trưởng lão Hòa thượng đã trực tiếp cứu trợ, chia sẻ những phần quà, giúp bà con vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống.

Để ghi nhận những đóng góp của Trưởng lão Hòa thượng cho Giáo hội cũng như Phật giáo tỉnh Đắk Lắk, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ 8, Trưởng lão Hòa thượng được cung thỉnh vào ngôi vị Thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam và tại Đại hội Đại biểu Phật giáo tỉnh Đắk Lắk Trưởng lão được Tăng Ni, Phật tử suy tôn vào ngôi vị Chứng minh Ban Trị sự cho đến ngày về cõi Phật.

Để tiếp nối sứ mạng truyền thừa Phật pháp, giữ gìn kỷ cương, giới luật, giềng mối của Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam, Trưởng lão Hòa thượng đã được Tăng tín đồ Hệ phái suy cử vào ngôi vị Phó Trưởng ban Thường trực Giáo phẩm Hệ phái. Đồng thời, đảm nhiệm chức vụ Trị sự Trưởng Giáo đoàn II, Trưởng lão Hòa thượng đã nỗ lực duy trì và phát triển Giáo đoàn vững mạnh, trang nghiêm theo truyền thống đoàn kết hòa hợp, cùng nhau tu tập lục hòa.

Dù trên cương vị nào, Trưởng lão Hòa thượng luôn thể hiện tâm từ bi, mô phạm chốn tòng lâm. Với uy đức trang nghiêm, trí tuệ viên dung, mỗi lời nói của Trưởng lão Hòa thượng là những đạo từ thâm thúy. Mỗi cử chỉ khoan thai, từ hòa, hỷ xả của Trưởng lão Hòa thượng là những hình ảnh giải thoát bất diệt của Đạo pháp. Thế mới biết: "Tâm từ rãi khắp muôn phương. Tâm bi rãi khắp mười phương chan hòa. Trong lòng nở một đóa hoa, Chúng sanh an lạc, chan hòa tình thương".

Để ghi nhận công đức Trưởng lão Hòa thượng đã cống hiến cho Đạo pháp và Dân tộc, Nhà nước đã tặng nhiều bằng khen, giấy khen;

Trung ương Giáo hội tặng nhiều Bằng Tuyên dương Công đức. Quả thật: "Đạo nghiệp một đời ghi đá trắng. Hóa thân muôn thưở ngự sen vàng".

Thế những tưởng, trên bước đường phụng sự Đạo pháp, phục vụ chúng sanh, Trưởng lão Hòa thượng còn trụ thế lâu hơn nữa để chứng minh cho các Phật sự của Trung ương Giáo hội và Hệ phái, làm cội tùng cho Tăng Ni, Phật tử, nhất là làm chỗ tựa nương để tu học và hành đạo của chư Tăng Giáo đoàn và Môn đồ Pháp quyến, nào ngờ đâu, một thoáng vô thường, trần gian là cõi tạm, thân tứ đại trả về với tứ đại, Trưởng lão Hòa thượng đã mãn nguyện Ta bà thu thần về cõi Phật.

Hơn 81 năm hiện hữu với đời, và hơn 50 năm giáo hóa độ sanh, thực hành sứ mạng cao cả "Tiếp dẫn Hậu lai, báo Phật ân đức", Trưởng lão Hòa thượng đã cùng Chư Tôn đức Giáo phẩm Hệ phái Khất sĩ hòa nhập và đồng hành cùng Giáo hội và xã hội qua các thời kỳ khác nhau của lịch sử. Trưởng lão Hòa thượng đã đến, đã đi và đã trở về với Chân tâm thường trú, thể tánh tịnh minh, an nhiên tự tại. Song sự ra đi của Trưởng lão Hòa thượng, chúng tôi không làm sao tránh khỏi sự bùi ngùi, luyến tiếc. Quả thật:

"Hữu hình hữu hoại lẽ thường,

Hoa Đàm dẫu rụng, mùi hương vẫn còn.

Dù cho sông cạn, đá mòn

Công lao ghi tạc, dấu son ngàn đời"

Hôm nay, trong giây phút ngàn thu vĩnh biệt, trước linh đài khói hương quyện tỏa, đôi lời tưởng niệm để gọi là thể hiện mối tâm giao, tình Pháp lữ đời đời trong Chánh pháp. Đồng thời, để tưởng nhớ công đức và gương đạo hạnh của Trưởng lão Hòa thượng, chúng tôi thay mặt Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự, xin đốt nén tâm hương cúng dường Giác linh Trưởng lão Hòa thượng. Kính nguyện Giác linh Trưởng lão Hòa thượng bất vong nguyện lực, tái hiện đàm hoa, phát triển đạo vàng, quang vinh họ Thích ngàn đời.

Thôi, nơi thế giới Niết bàn vô tung bất diệt, Giác linh Trưởng lão Hòa thượng hãy ngao du tự tại, với Pháp thân lồng lộng tợ hư không, sẽ sống mãi trong lòng pháp lữ, trong tư duy cùng pháp giới vô biên.

Xin bái biệt Trưởng lão Hòa thượng!

NAM MÔ CHỨNG MINH SƯ BỒ TÁT MA HA TÁT

TIỂU SỬ TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH GIÁC THANH

Thành viên Hội đồng Chứng Minh GHPGVN;

Chứng minh BTS GHPGVN tỉnh Đắk Lắk;

Phó Trưởng ban Ban Thường trực Giáo phẩm Hệ phái;

Trị sự trưởng Giáo đoàn II Hệ phái Khất Sĩ;

Trụ trì Tịnh xá Ngọc Nguyên TP Buôn Ma Thuột.

1. THÂN THẾ

Trưởng lão Hòa thượng THÍCH GIÁC THANH, thế danh NGUYỄN VĂN DŨNG, sinh ngày 07 tháng 02 năm Nhâm Ngọ (1942), tại Tân Ninh, Thạc Gián, Quảng Nam Đà Nẵng, nay là quận Thanh Khê, Thành phố Đà Nẵng.

Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Lẫm, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Tửu. Ngài là con trai thứ ba trong gia đình có hai chị gái và một em trai.

Xuất thân trong gia đình trung nông nghèo khó, cha mẹ mất sớm, nên người phải sống với mẹ kế. Dù lớn lên trong thời buổi chiến tranh, xã hội còn nhiều khó khăn, đến tuổi đi học, người được cắp sách đến trường, nhưng học đến lớp 7, người phải nghỉ học chữ, đi học nghề phụ giúp mẹ kế nuôi người em trai út. Người rất khéo tay, học may học vẽ, người rất lành nghề. Người còn thích thêu thùa, đặc biệt là thêu hình Phật và Bồ tát Quán Thế Âm rất sắc nét và sống động.

2. XUẤT GIA HỌC ĐẠO

Mến mộ Ánh Đạo Vàng Người đến sinh hoạt dưới mái nhà lam hiền Gia đình Phật tử Khuôn Hội Thạc Gián từ nhỏ Năm 1962 tròn 20 tuổi, trở thành những Huynh trưởng ưu tú của Gia đình Phật tử tỉnh Quảng Nam, cùng thời với Ngài có Huynh trưởng Tâm Thanh - Lê Thanh Hải sau này xuất gia trở thành Hòa thượng Thích Tâm Thanh trụ trì Vinh Minh Tự Viện, Đức Trọng Lâm Đồng

Trong thời gian này người được Mẹ kế hứa hôn cùng cô thôn nữ trong vùng, đợi ngày lành tháng tốt để loan phụng hòa minh về chung một nhà. Thế rồi, nhân duyên xuất trần nhiều đời nhiều kiếp tích tụ phát khởi; khi nhìn thấy Tăng đoàn Khất sĩ với những vị đầu trần chân không, mình khoác y vàng du hành khất hóa theo gương hạnh Phật Tăng xưa, người Thanh niên đang độ tuổi thanh xuân tóc còn đen nhánh buông bỏ tất cả để phát tâm xuất gia học đạo.

Lang thang mấy thuở bềnh bồng,

mấy ai nhận được tánh không để về.

Ta bà chợt tỉnh cơn mê,

Chân như mở lối đi về thênh thang.

Ngày mùng mười tháng Giêng mùa Xuân năm Ất Tỵ (1965), người đến Tịnh xá Ngọc Giáng Thành Phố Đà Nẵng xin xuất gia, được đức Trưởng lão Giác Tánh, Tăng Chủ Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Việt Nam, thâu nhận và ban cho Pháp danh Giác Thanh.

Quả thật: Mưa xuân nhẹ hạt đất tâm ướt

` Hạt đậu năm xưa hé miệng cười.

Sáu tháng sau, ngày 16-07-Ất Tỵ (1965) tại Tịnh xá Ngọc Trang (Khánh Hòa), người được Giáo đoàn truyền trao Sa di thập giới và tứ y pháp trung đạo.

Hơn 4 năm theo Tăng đoàn học hạnh Sa-môn Khất sĩ, du phương khất thực hoá duyên, với tinh thần:

“Khất sĩ y bát chơn truyền đạo,

Ta-bà du hoá độ nhân sanh”,

Giới hạnh châu viên, duyên lành kết tụ, vào ngày rằm tháng Bảy năm Kỷ Dậu (1969) tại Tịnh xá Ngọc Hội (Bồng Sơn- Bình Định), người được truyền trao giới Cụ túc Tỳ-kheo.

3. THỜI KỲ HÀNH ĐẠO

Sau khi thọ nhận đầy đủ giới pháp, ngài theo các vị Tôn trưởng luân phiên tu học và hành đạo tại các miền Tịnh xá Giáo đoàn II từ Sài Gòn đến Đông Hà, Quảng Trị và Cao Nguyên đất đỏ Bazan.

Từ năm 1973 đến nay, ngài trú trì Tịnh Xá Ngọc Nguyên, số 233/32 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Từ năm 1980, Trường Hạ của Hệ phái thường xuyên được tổ chức tại Tịnh xá Trung Tâm (quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh), Ngài đã về an cư tu học nhiều năm ở Hạ trường.

Năm 1991, ngài được chư Tăng Giáo đoàn II suy cử làm Phó tri sự Giáo đoàn, phụ trách Hoằng pháp, và được Hệ phái suy tôn vào hàng Giáo phẩm Hệ phái.

Từ năm 1986, ngài được mời tham gia Ban Trị sự GHPGVN Tỉnh Đắk Lắk, với các chức danh Phó Trưởng ban trị sự, Ủy viên Ban Giáo dục Tăng Ni, Ủy viên Hoằng pháp.

1994-1997 lúc này tuổi đã ngoài ngũ tuần, với nhiều trách nhiệm nặng nề từ Giáo đoàn Hệ phái và Ban Trị sự tỉnh nhà, Ý thức trách nhiệm thiêng liêng cao cả của Nghành Hoằng Pháp, Ngài dành nhiều thời gian để tham cứu Kinh Tạng các bộ phái. Khi Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo Hội mở lớp Đào tạo giảng sư ở Thiền Viện Quảng Đức, VP II Trung Uơng Giáo hội, Ngài là một trong những học viên lớn tuổi tham gia khóa II mang tôn hiệu “Thiện Hoa” của nghành Hoằng Pháp.

Nhiệm kỳ 2002-2007, ngài được Giáo hội suy cử đảm nhiệm Phó Trưởng Ban Trị sự, kiêm Trưởng Ban Giáo dục Tăng Ni; Trưởng Ban Hoằng pháp GHPGVN tỉnh. Với vai trò Trưởng ban Hoằng pháp, ngài đã đến thăm, sách tấn Tăng Ni Phật tử tu học và giảng dạy tại rất nhiều tịnh xá, tự viện trong và ngoài tỉnh.

Lúc giảng dạy cho hàng xuất gia Ngài thường khuyến hóa chư Tăng Ni hãy luôn tâm niệm và thực hành 4 đức hạnh cao quý của người xuất gia mà Đức Thế Tôn đã chỉ dạy đó là: Diệu Hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Trực Hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Chánh Hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Như lý Hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn

Thực nghiệm và thấy rõ nỗi khổ của thế nhân, xã hội gia đình và chính tự thân lúc còn trong trong cõi hồng trần, nên Ngài thường quảng thuyết về lý Vô Thường, Khổ và nguyên nhân của Khổ, sự Diệt Khổ và con đường Diệt Khổ. Ngài hay trích dẫn trùng tuyên đoạn thơ để khuyến hóa tứ chúng:

Trên đường đạo, không gì bằng tinh tấn

Không gì bằng trí tuệ của đời ta

Sống điêu linh, trong cỏi ta bà

Chỉ tinh tấn mới vượt qua tất cả.

Từ năm 2001 đến năm 2005, ngài cùng với chư Tăng trú xứ và Phật tử xây trùng tu ngôi Tịnh xá Ngọc Nguyên trang nghiêm hoàn mãn trỏ thành một cơ sở tu học cho chư Tăng và Phật tử trong tỉnh và Giáo đoàn. Tổ chức Khánh Thành một cách trang nghiêm trọng thể vào ngày 19 tháng Giêng năm Ất Dậu (2005).

Năm 2010, sau khi Hòa thượng Giác Thường Trị sự trưởng Giáo đoàn II viên tịch, Ngài được Giáo đoàn suy tôn ngôi vị Trị sự Trưởng Giáo đoàn vào ngày Rằm tháng 07 năm Canh Dần. Trong thời gian này, Hệ Phái tổ chức

các khóa tu "Giới Định Tuệ - truyền thống Khất sĩ" ở các Giáo đoàn, Ngài đã đồng hành nhiều khóa cùng chư tôn đức Giáo phẩm Hệ phái, với những vai trò như Giám thiền, Giám luật, Hóa chủ khóa tu. Là một bậc Giáo phẩm Hệ phái, ngài thường an chúng một cách nhẹ nhàng thinh lặng.

Khi tuổi đã cao, sức khỏe giảm dần lại có bệnh duyên, nên những năm tháng sau ngày khánh thành Tịnh xá, Ngài giao việc điều hành sinh hoạt Tịnh xá cho Thượng tọa Giác Kim và chư Tăng chăm lo. Với Giáo hội tỉnh Đắk Lắk, ngài tham gia với vai trò đồng hành duy trì ổn định và chứng minh.

Trong Đại hội đại biểu GHPGVN toàn quốc lần thứ 8 nhiệm kỳ 2017-2022, Hòa thượng được Giáo hội suy cử làm thành viên Hội đồng Chứng minh GHPGVN.

4. NHỮNG NGÀY THÁNG CUỐI ĐỜI

Sau mùa Phật Đản Vesak năm 2018, sức khỏe của ngài bắt đầu suy giảm, không còn đi lại linh hoạt, không còn tham gia chứng minh các cuộc hội họp xa gần, Hòa thượng chỉ an trú nơi Phương trượng Tịnh xá Ngọc Nguyên dưỡng bệnh, thanh tu. Đệ tử các hàng lui tới chăm lo săn sóc hết lòng.

Mùa Phật đản năm nay, đồng bào Phật tử trở về đạo tràng Tịnh xá nhiều hơn, vui hơn khi thấy Hòa Thượng Viện Chủ vẫn còn vui vẻ nói cười thăm hỏi. Có ngờ đâu, đó là nguồn sáng của ánh tuệ minh đăng lóe lên lần sau cuối báo hiệu cho sự lịm tắt mãi mãi. Sau ngày Đại lễ Phật Đản Phật lịch-2566, sức khỏe ngài yếu dần, đến 15 giờ 15 phút ngày 20 tháng Tư năm Nhâm Dần (20-05-2022), ngài đã thuận thế vô thường nhẹ nhàng viên tịch trong tịnh thất. Trụ thế 81 năm, 53 hạ lạp

Giác Tha Viên Mãn Tùy Duyên Hoằng Pháp Độ Nhân Sanh

Thanh Tịnh Đủ Đầy Hóa Hiện Ta Bà Lưu Diệu Âm.

Với 81 xuân thu trụ thế, 53 Hạ lạp thu thúc giáo hóa, Hòa thượng đã để lại cho đoàn hậu học một tấm gương đạo hạnh mẫu mực mà mỗi khi nghĩ đến đại chúng đều ngưỡng vọng, tôn thờ.

Giờ đây rừng thiền vắng lặng như tờ,

Người về lòng thấy ngẫn ngơ nhớ Người.

Đức từ tỏa khắp muôn nơi,

Ngọc Nguyên Tịnh xá, người người nhớ ân.

Đến thì mộc mạc lặng thầm,

Đi thì trời biển vang âm dạt dào.

Vì đàn hậu học truyền trao,

Pháp âm mầu nhiệm thuở nào còn vang.

Người về như ánh trăng vàng.

Hiện bày thân giáo trang nghiêm đạo trường.

Người đi hương đức còn vương,

Sáng soi trên những dặm đường chúng sanh.

Dẫu rằng sự đến đi của ngài như “nhạn quá trường không” chẳng màng để bóng, chẳng bận lưu hình, nhưng cuộc đời và đạo nghiệp của Ngài quả thật là tấm gương sáng cho nhân thế soi chung.

Thành kính bái biệt Trưởng lão Hòa thượng, Ngưỡng nguyện Giác linh Trưởng lão Hòa thượng thùy từ chứng giám.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới Thiệu:

    Chùa Sắc Tứ Khải Đoan là ngôi chùa đầu tiên của tổ chức Phật Giáo có mặt tại Đaklak, được xây dựng vào năm 1951. chùa tọa lạc trên khu đất rộng 7 mẫu 8 sào 28m2, do Đoan Huy Hòang Thái Hậu Hòang Thị Cúc hiến cúng cho Tổng Hội Phật Giáo trung phần.

Thông báo

Số Lượng truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 15


Hôm nayHôm nay : 2295

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 70088

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 14067795


Ảnh đẹp